Người bị kết án tử hình được chuyển xuống tù chung thân:

Thời gian giam giữ để chờ thi hành án tử có được tính khi xét giảm án?

(PLO)- Các chuyên gia đồng tình với việc thời gian giam giữ để chờ thi hành án tử hình được khấu trừ khi xét giảm án, sau khi người bị kết án tử hình được chuyển xuống án tù chung thân do hết thời hiệu.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Bộ Tư pháp đã công bố tài liệu thẩm định hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) do Bộ Công an chủ trì soạn thảo.

Điều 60 Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành quy định thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án chung thân hoặc tử hình là 20 năm.

Theo Bộ Công an, luật chưa quy định về việc khi hết thời hiệu thi hành bản án tử hình thì người bị kết án có được chuyển xuống án tù chung thân hay không.

Để giải quyết vướng mắc này, cơ quan soạn thảo đề xuất sửa đổi theo hướng nếu hết thời hiệu thi hành án thì án tử hình chuyển thành án tù chung thân.

Vấn đề đặt ra là nếu người bị kết án tử hình được giảm xuống án tù chung thân, thì thời gian người này đã ngồi tù có được tính để tiếp tục xét giảm án?

Pháp Luật TP.HCM xin ghi nhận ý kiến chuyên gia về vấn đề trên.

nguoi-bi-ket-an-tu-hinh.jpg
TAND TP Hà Nội tuyên án tử hình với người đốt quán cà phê khiến 11 người tử vong. Ảnh: BÙI TRANG

ThS LÊ BÁ ĐỨC, Khoa Luật, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM:

Hiểu đúng về chuyển án tử hình khi hết thời hiệu

de-xuat-xu-ly-an-tu-hinh-het-thoi-hieu-can-bao-dam-vua-nhan-dao-vua-ran-de-.jpg
ThS Lê Bá Đức

Đề xuất này không phải là giảm án thông thường mà là cơ chế xử lý hậu quả pháp lý khi Nhà nước không thi hành án tử hình sau thời gian quá dài.

Điều 60 BLHS hiện hành quy định thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án chung thân hoặc tử hình là 20 năm. Khi hết thời hiệu, quyền thi hành hình phạt của Nhà nước đương nhiên chấm dứt. Tuy nhiên, luật chưa quy định rõ án tử hình sẽ được xử lý ra sao, dẫn đến khoảng trống thực tiễn.

Trong quá trình thẩm định, Văn phòng Chủ tịch nước cho rằng thời hiệu là căn cứ chấm dứt quyền thi hành hình phạt của Nhà nước, không phải cơ chế chuyển đổi hình phạt. Do đó, việc quy định chuyển án tử hình sang tù chung thân là chưa phù hợp với bản chất pháp lý của chế định thời hiệu. Quan điểm này có cơ sở lý luận chặt chẽ và nhấn mạnh tính nguyên tắc của chế định thời hiệu.

Tuy nhiên, cần cân nhắc cả thực tiễn và tính nhân đạo. Cách tiếp cận nêu trên bảo vệ bản chất thuần túy của thời hiệu, nhưng chưa xử lý được tính chất đặc thù của án tử hình, là hình phạt liên quan trực tiếp đến quyền sống. Nếu để người bị kết án đương nhiên không phải chấp hành bất kỳ hình phạt nào chỉ vì hết thời hiệu thì không phù hợp với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm và có thể tạo khoảng trống pháp lý trong thực tiễn.

Vì vậy, việc chuyển sang tù chung thân không nên hiểu là phủ nhận bản chất của chế định thời hiệu, mà là quy định ngoại lệ có tính nhân đạo và đặc thù đối với án tử hình. Theo hướng này, Nhà nước không tiếp tục thi hành án tử hình sau khi hết thời hiệu, nhưng vẫn bảo đảm người bị kết án phải chịu trách nhiệm bằng hình phạt tù chung thân tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Thực tế, chính sách hình sự nước ta từng có cách tiếp cận tương tự. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho phép chuyển án tử hình thành tù chung thân trong một số trường hợp không áp dụng thời hiệu.

Trên bình diện quốc tế, Nhật Bản không đặt thời hiệu thi hành án tử hình mà quy định phải thi hành trong 6 tháng sau phán quyết cuối cùng, tuy nhiên thực tế nhiều trường hợp kéo dài từ nhiều năm đến 18 năm mà không có cơ chế chuyển tự động.

Trung Quốc áp dụng hình thức tử hình hoãn thi hành 2 năm, nếu không phạm tội mới do cố ý thì chuyển thành án tù chung thân hoặc tù có thời hạn 25 năm.

Tại Anh, án tử hình đã bị bãi bỏ từ năm 1965, nhưng án lệ Pratt and Morgan năm 1993 xác định việc trì hoãn thi hành án tử hình quá 5 năm là vô nhân đạo và phải chuyển thành tù chung thân. Trong tương quan đó, đề xuất này là bước đi trung dung, vừa bảo đảm tính nhân đạo, vừa giữ yêu cầu xử lý nghiêm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Theo tôi, toàn bộ thời gian người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam và giam để chờ thi hành án tử hình phải được trừ vào thời gian chấp hành án tù chung thân sau khi chuyển hóa. Trong suốt khoảng thời gian đó, họ đã thực tế bị tước quyền tự do dưới chế độ giam giữ nghiêm ngặt nhất, không thể coi là khoảng thời gian trống về mặt pháp lý.

Giả sử, nếu một người đã bị giam giữ liên tục hơn 25 năm rồi sau khi hết thời hiệu lại bị tính như bắt đầu chấp hành án chung thân từ đầu thì bất hợp lý. Điều này vi phạm nguyên tắc không bị trừng phạt hai lần về cùng một hành vi và đi ngược lại tinh thần nhân đạo mà BLHS đang hướng tới. BLHS hiện hành đã thừa nhận nguyên tắc khấu trừ thời gian tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, cần áp dụng nhất quán cho cả trường hợp chuyển hóa này.

Trên thế giới, việc khấu trừ thời gian giam, giữ trước khi thi hành án là cách tiếp cận phổ biến. Nhiều nước khi xử lý các trường hợp án tử hình bị trì hoãn kéo dài cũng sử dụng chính thời gian đã bị giam giữ làm cơ sở để ân xá hoặc chuyển hình phạt. Nếu không quy định rõ việc khấu trừ, chính sách nhân đạo rất dễ trở thành bất công trong thực tiễn.

Luật sư ĐỖ KHẮC TẤT HƯNG, Đoàn Luật sư TP.HCM

Cần cơ chế riêng để giữ tính răn đe

2de-xuat-xu-ly-an-tu-hinh-het-thoi-hieu-can-bao-dam-vua-nhan-dao-vua-ran-de-.jpg
LS Đỗ Khắc Tất Hưng

Đề xuất của Bộ Công an về việc chuyển án tử hình sang tù chung thân khi hết thời hiệu thi hành án, được đánh giá là phù hợp, bảo đảm tính nghiêm minh và răn đe của pháp luật hình sự.

Người bị kết án tử hình là đặc biệt nguy hiểm, nên nếu được trả tự do chỉ vì hết thời hiệu sẽ dễ gây bức xúc, bất an trong dư luận.

Tuy nhiên, việc thiết lập điều kiện giảm án đối với trường hợp này cần một cơ chế riêng, cân bằng giữa tính nhân đạo và yêu cầu răn đe. Người bị kết án tử hình đã trải qua khoảng 20 năm giam giữ (có thể hơn) trong điều kiện nghiêm ngặt, nên sự bào mòn về thể chất, tinh thần cần được tính đến như một phần hậu quả pháp lý đã gánh chịu. Đồng thời, việc chuyển từ án tử hình sang tù chung thân do hết thời hiệu cũng là một yếu tố giảm nhẹ mang tính nhân đạo.

Để bảo đảm tính thống nhất trong BLHS, tôi cho rằng cần bổ sung trường hợp chuyển đổi hình phạt nêu trên vào khoản 3 Điều 40 BLHS liên quan đến các trường hợp không thi hành án tử hình. Do khoản 4 Điều 40 vốn đã có sẵn quy định “hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân” đối với các trường hợp nêu tại khoản 3, việc bổ sung trường hợp chuyển đổi hình phạt vào khoản 3 sẽ tự động được áp dụng một cách tương thích và đồng bộ.

Ngoài ra, khoản 6 Điều 63 BLHS quy định rằng đối với trường hợp không thi hành án tử hình tại khoản 3 Điều 40 thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và thời hạn thực tế chấp hành tối thiểu là 30 năm.

Như vậy, khi việc hết thời hiệu được bổ sung vào khoản 3 Điều 40 BLHS, người bị kết án sẽ chịu sự điều chỉnh trực tiếp của khoản 6 Điều 63 BLHS. Do đó, cần bổ sung quy định về việc cấn trừ trực tiếp 20 năm tạm giam (có thể hơn) chờ thi hành án tử hình vào mức 25 năm để xét giảm lần đầu, giúp bảo đảm quyền lợi cho người chấp hành án sau hai thập kỷ bị giam giữ nghiêm ngặt để chờ thi hành án tử hình.

Phạm vi áp dụng chính sách này cần được xác định chặt chẽ theo Điều 61 BLHS về các tội không áp dụng thời hiệu thi hành án. Theo đó, không đặt ra việc hết thời hiệu đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và một số khung đặc biệt nghiêm trọng của tội tham ô, nhận hối lộ. Vì vậy, cơ chế chuyển hình phạt do hết thời hiệu thực chất chỉ đặt ra với một số tội còn lại có mức án tử hình như giết người hoặc tội phạm về ma túy.

Đối với các tội danh có thời hiệu này, cần tiếp tục phân hóa điều kiện sau khi chuyển đổi sang án chung thân nhằm bảo đảm tính răn đe. Các tội phạm có tính chất tàn bạo cực đoan như giết người hàng loạt hoặc xâm hại tình dục trẻ em dẫn đến tử vong phải bị áp dụng hình phạt chung thân tuyệt đối, nghĩa là vẫn giữ lại quyền được sống nhưng hoàn toàn không xét đặc xá hay giảm án.

Ngược lại, cơ chế xem xét đặc xá sau khi chấp hành thêm từ 7-10 năm tù tính từ thời điểm chuyển đổi chỉ nên dành cho nhóm tội phạm về ma túy mang tính chất đồng phạm bị sai khiến hoặc các tội danh hình sự có tính chất bộc phát.

Bên cạnh đó, điều kiện về mặt nội dung đối với nhóm được xét đặc xá phải thắt chặt hơn do tính chất nguy hiểm ban đầu của tội phạm.

Để được xét đặc xá, phạm nhân bắt buộc phải đạt tiêu chuẩn cải tạo loại tốt liên tục, không vi phạm kỷ luật giam giữ, đồng thời phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ dân sự và bồi thường toàn bộ thiệt hại trong vụ án. Việc kết hợp giữa giảm thời gian thử thách so với án tù thông thường và siết chặt tiêu chí cải tạo thực tế sẽ giúp hệ thống pháp luật bảo đảm tính nhân đạo tư pháp, đồng thời duy trì sự nghiêm minh đối với những tội ác đặc biệt nghiêm trọng.

Siết đặc xá với người được chuyển từ án tử hình xuống chung thân

Nếu chính sách mới cho phép chuyển án tử hình xuống tù chung thân, thì đối với ân xá, đặc xá cần có cơ chế pháp lý chặt chẽ, tránh tạo tâm lý rằng sau khi được chuyển án, việc ra khỏi trại giam trở nên dễ dàng. Bởi người phạm tội đã được hưởng một lần khoan hồng đặc biệt thông qua việc chuyển hình phạt.

3de-xuat-xu-ly-an-tu-hinh-het-thoi-hieu-can-bao-dam-vua-nhan-dao-vua-ran-de-.jpg
ThS Đặng Trần Kha

Theo đó, cần nghiên cứu thiết kế cơ chế xét đặc xá với tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn đối với nhóm đối tượng này. Việc được chuyển từ tử hình xuống tù chung thân có thể được xem là yếu tố đặc thù để đặt ra điều kiện riêng khi xét đặc xá. Chẳng hạn, người được chuyển án phải chấp hành thời gian thực tế dài hơn so với tù chung thân thông thường.

Đặc biệt, cần tránh cách tiếp cận thiên về tiêu chí hành chính như “xếp loại cải tạo tốt” hoặc “chấp hành nội quy trại giam tốt”, vì chỉ phản ánh một phần quá trình chấp hành án. Với người từng bị tuyên án tử hình thuộc nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, việc xét đặc xá cần được đánh giá toàn diện hơn, bao gồm sự ăn năn hối cải bền vững, ý thức khắc phục hậu quả và mức độ giảm nguy cơ tái phạm.

Ngoài ra, pháp luật có thể cân nhắc cơ chế giới hạn hoặc loại trừ xét đặc xá trong một thời hạn nhất định kể từ thời điểm chuyển án, nhằm bảo đảm cân bằng giữa chính sách khoan hồng và yêu cầu nghiêm minh của pháp luật. Nếu một người vừa được chuyển án tử hình nhưng sau thời gian không dài lại tiếp tục được đặc xá, xã hội có thể xuất hiện cảm nhận việc xử lý tội phạm đặc biệt nghiêm trọng bị nới lỏng quá mức.

Ân xá, đặc xá thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Tuy nhiên với trường hợp đã được chuyển từ tử hình xuống tù chung thân, cần thiết kế cơ chế riêng, chặt chẽ hơn, phân tầng rõ ràng, bảo đảm khoan hồng đúng đối tượng, không tạo cảm nhận dễ dãi trong xử lý tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

ThS ĐẶNG TRẦN KHA, Khoa Luật, Trường Đại học Hùng Vương TP.HCM

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm