Sửa Bộ luật Hình sự, đề xuất người phạm tội bỏ trốn là tình tiết tăng nặng

(PLO)- Bộ Công an đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng người phạm tội bỏ trốn nhằm hoàn thiện căn cứ ra quyết định hình phạt nhưng VKSND Tối cao đề nghị cân nhắc...

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Bộ Tư pháp vừa công bố tài liệu thẩm định hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) (BLHS).

Theo Dự thảo Tờ trình do Bộ Công an soạn thảo (sau thời gian lấy ý kiến), việc sửa đổi BLHS năm 2015 là một yêu cầu cấp thiết, sau hơn 10 năm thi hành (bao gồm các lần sửa đổi năm 2017 và 2025), thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm đã xuất hiện những diễn biến mới, đòi hỏi khung pháp lý phải sắc bén hơn. Đặc biệt, việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người là kim chỉ nam cho đợt sửa đổi lần này.

Dự án luật dự kiến sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 và thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XVI.

truy-na-dac-biet-1-756-738.jpg.png
Một đối tượng bỏ trốn, bị truy nã sau đó ra đầu thú tại Công an tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: CA

Bỏ trốn là tình tiết tăng nặng

Theo Dự thảo tờ trình, một trong những chính sách khi sửa bộ luật là hoàn thiện các quy định mang tính nguyên tắc để làm cơ sở cho việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Đây là hướng phù hợp với yêu cầu gắn chính sách phát triển với phòng, chống tội phạm và khắc phục sơ hở mà tội phạm có thể lợi dụng.

Trong đó, Bộ Công an đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng “người phạm tội bỏ trốn”; “người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm” nhằm hoàn thiện căn cứ ra quyết định hình phạt; bảo đảm tính công bằng, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Quá trình tham vấn chính sách, VKSND Tối cao đề nghị cân nhắc việc quy định tình tiết “người phạm tội bỏ trốn” là tình tiết tăng nặng. Theo VKSND Tối cao, tình tiết người phạm tội bỏ trốn không phải là động cơ, mục đích chính của việc phạm tội mà là yếu tố thuộc về bản chất, tâm lý của người phạm tội luôn muốn trốn tránh việc bị pháp luật xử lý, do vậy, không coi là lý do để áp dụng tình tiết tăng nặng cho hành vi phạm tội.

Bên cạnh đó, trách nhiệm bắt giữ, chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 15 của BLTTHS).

Mặt khác, hiện đã có các cơ chế xử lý đối với người phạm tội bỏ trốn như truy bắt, truy nã và áp dụng biện pháp tạm giam hoặc thực hiện cơ chế điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt… Trường hợp hành vi bỏ trốn đủ cấu thành để xử lý về một tội phạm độc lập thì sẽ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS (như tội Trốn khỏi nơi giam giữ).

Phản hồi quan điểm của VKSND Tối cao, Bộ Công an cho rằng cần phân biệt giữa việc người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội với hành vi cố ý bỏ trốn nhằm trốn tránh việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.

Hành vi bỏ trốn trong trường hợp này không được coi là căn cứ chứng minh có tội, mà là yếu tố phản ánh thái độ chống đối, cản trở hoạt động tố tụng, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, tăng chi phí tố tụng, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, thu hồi tài sản, bảo vệ bị hại, người làm chứng và bảo đảm thi hành án.

Các cơ chế truy bắt, truy nã, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt là biện pháp tố tụng, không thay thế cho căn cứ lượng hình khi quyết định hình phạt. Mặt khác, không phải mọi hành vi bỏ trốn đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập như tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử.

Vì vậy, Bộ Công an đề nghị giữ nguyên quy định về tình tiết này.

Tình tiết giảm nhẹ hay căn cứ quyết định hình phạt

Đối với chính sách về hình phạt, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về quyết định hình phạt là hình phạt tiền thay vì hình phạt tù đối với một số tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Về nội dung này, UBND TP Huế đề nghị nghiên cứu, điều chỉnh theo hướng mức độ giảm hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời, có sự phân hóa hợp lý giữa các nhóm tội phạm nhằm bảo đảm tính công bằng, hiệu quả trong áp dụng và thống nhất trong chính sách hình sự.

Nội dung dự thảo chính sách quy định, đối với trường hợp điều luật có khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt tối đa không quá 20 năm tù, trong khi đối với trường hợp khung hình phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức cao nhất của khung là chưa bảo đảm sự hợp lý về tương quan giữa các loại tội phạm.

Đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (có khung hình phạt đến tù chung thân hoặc tử hình), mức giảm hình phạt lại có xu hướng sâu hơn so với các tội phạm có mức độ nghiêm trọng thấp hơn, dẫn đến nguy cơ không bảo đảm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và tính công bằng trong áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, việc quy định chung mức trần hình phạt cụ thể (không quá 20 năm) đối với các trường hợp có khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình có thể làm thu hẹp đáng kể sự khác biệt về mức độ nghiêm khắc giữa các loại hình phạt, ảnh hưởng đến tính răn đe, phòng ngừa chung.

Trong khi đó, Bộ Tư pháp cho rằng BLHS hiện hành đang quy định “người phạm tội đã thành khẩn khai báo trong giai đoạn điều tra, ăn năn, hối cải và đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả” là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 BLHS.

Khoản 1 Điều 50 BLHS quy định “khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.

Về vấn đề này, theo Bộ Công an, cần phân biệt giữa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và căn cứ quyết định hình phạt. Điều 51 hiện mới ghi nhận riêng lẻ các tình tiết như tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Trong khi đó, chính sách của dự thảo Báo cáo không chỉ lặp lại các tình tiết giảm nhẹ này, mà nhằm xác lập một căn cứ định hướng tổng hợp khi người phạm tội đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện: thành khẩn khai báo trong giai đoạn điều tra, ăn năn hối cải và đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả.

Do đó, việc bổ sung quy định này không làm thay đổi bản chất của các tình tiết giảm nhẹ đã có, cũng không làm trùng lặp cơ học với Điều 51 BLHS, mà nhằm nâng mức độ định hướng lập pháp đối với trường hợp người phạm tội có sự chuyển biến tích cực rõ rệt sau khi phạm tội.

Đây là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét áp dụng hình phạt nhẹ hơn, hình phạt không tước tự do, hoặc quyết định mức hình phạt phù hợp hơn trong phạm vi luật định, qua đó bảo đảm tốt hơn nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt.

Đối với ý kiến UBND Huế, Bộ Công an sẽ nghiên cứu và đề xuất cụ thể phù hợp hơn.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm