Y tế truyền thống - một nguồn lực chấn hưng y tế

Hoạt động trị liệu của mạng lưới y tế cơ sở không thể chỉ là hình ảnh thu nhỏ của các bệnh viện và cơ sở chữa bệnh các tuyến trên mà phải nối kết với truyền thống y tế dân gian ở từng địa phương cụ thể.

Trải qua 30 năm chiến tranh, 10 năm bao cấp rồi 25 năm đổi mới, bên cạnh nhiều thành tựu lớn lao, nền y tế Việt Nam cũng mang trong sự phát triển của nó nhiều điểm yếu trí mạng như loạt bài “Một nền y tế đang trốc gốc” trên báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minhmới đây phần nào cho thấy. Nhưng nhìn từ góc độ lịch sử, nền y tế Việt Nam hiện nay còn “trốc gốc” vì thiếu mất sự liên hệ ở mức độ cần thiết với nền y tế truyền thống, trong đó nổi bật là Đông y.

Đông y Việt Nam trong lịch sử

Đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam đã có một truyền thống y tế và y học khá dày dặn gồm hai bộ phận là y tế dân gian và Đông y. Nhưng y tế dân gian dựa trên kinh nghiệm chữa bệnh cho người và vật nuôi khó đạt tới trình độ một khoa học hoàn chỉnh để vượt ra khỏi các giới hạn địa phương, còn Đông y tuy có hạt nhân lý thuyết khá hoàn chỉnh lại gặp nhiều khó khăn do cấu trúc xã hội và trình độ kỹ thuật đương thời đưa tới. Chẳng hạn Đông y sử dụng nhiều dược liệu tự nhiên nhưng việc bào chế Đông dược các thế kỷ trước lại chủ yếu được tiến hành theo kiểu thủ công nên khó đạt được hiệu quả chữa trị đồng đều. Cho nên đến trước khi bị người Pháp đô hộ, Việt Nam vẫn chưa có được một hệ thống y tế xã hội mang tính toàn dân.

Y tế truyền thống - một nguồn lực chấn hưng y tế ảnh 1

Nếu được huy động đúng mức, đông y sẽ góp phần không nhỏ vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng. Trong ảnh: Khám bệnh nhân liệt của khoa Đông y BV Bảo lộc (Lâm Đồng). Ảnh: Bình Minh

Thiếu đi những điều kiện xã hội và kỹ thuật cần thiết, Đông y truyền thống Việt Nam không thể giải quyết mâu thuẫn giữa triết lý y học cực cao và năng lực y tế cực thấp, mặc dù cũng sản sinh được nhiều bậc danh y nổi tiếng từ Tuệ Tĩnh tới Hải Thượng Lãn Ông rồi Nguyễn Đình Chiểu với Ngư Tiều y thuật vấn đáp, bộ sách mang tính giáo khoa hoàn chỉnh duy nhất viết bằng tiếng Việt - chữ Nôm trong lịch sử Đông y Việt Nam. Chính vì vậy mà mặc dù từ năm 1802 đã xác lập được mạng lưới y tế nhà nước tới cấp dinh trấn (về sau là cấp tỉnh), đến cuối thế kỷ XIX triều Nguyễn vẫn phải nhiều lần sai các địa phương lập đàn cầu đảo khi có dịch bệnh, huy động các hình thức “ma thuật” vào mục đích y tế để bảo vệ sức khỏe và tính mạng cho nhân dân. Không lạ gì mà dưới thời Pháp thuộc, nền y học hiện đại phương Tây với những ưu thế về tổ chức và kỹ thuật đã mau chóng trở thành hạt nhân của nền y tế hiện đại ở thuộc địa.

Cho đến năm 1945, Đông y ở Việt Nam cũng không phát triển mấy trong bối cảnh y tế hiện đại. Cũng đã có nhiều ý hướng canh tân Đông y theo đường hướng Đông Tây y kết hợp, một số hiệp hội Đông y sĩ được thành lập nhưng trong thực tiễn xã hội nó vẫn chỉ là vai phụ bên cạnh Tây y. Từ năm 1945 trở đi thì với những ưu thế trong việc cứu thương, giải phẫu và nhất là dược phẩm phù hợp với nhu cầu xã hội trong hoàn cảnh thời chiến, Tây y đã vươn lên vị trí độc tôn. Sau năm 1954, Đông y vẫn tồn tại ở cả hai miền Nam, Bắc nhưng với địa vị khá khiêm tốn, tình hình này vẫn kéo dài từ sau năm 1975 đến nay. Mặc dù ở Hà Nội có cơ sở đào tạo thầy thuốc Đông y như Trường Tuệ Tĩnh, một số tỉnh, thành ở Việt Nam có các cơ sở chữa bệnh Đông y, trong bộ máy của Bộ Y tế hiện có Vụ Y Dược cổ truyền, Hội Đông y Việt Nam hiện cũng có nhiều thành viên là Hội Đông y ở các tỉnh…, hiệu quả xã hội của Đông y trong việc phòng và chữa bệnh ở Việt Nam hiện nay vẫn còn rất ít ỏi.

Đông y trong công cuộc chấn hưng y tế hiện nay

Hạn chế trong việc chẩn đoán bên cạnh nhược điểm về dược phẩm, khó khăn trong việc đào tạo thầy thuốc vốn cần học tập các tài liệu y văn viết bằng chữ Hán… là những lý do khiến Đông y khó phát triển trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đông y nói riêng và y tế truyền thống nói chung vẫn là một nguồn lực tiềm tàng nhưng to lớn mà nếu được huy động đúng mức chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng.

Cần nói thêm rằng chi phí cho dược phẩm trong việc trị liệu hiện nay là quá cao so với thu nhập của phần đông người dân. Các bài thuốc dân gian truyền thống, các phương thuốc bồi bổ sức khỏe thông thường của Đông y nếu được kiểm định chặt chẽ và phổ biến rộng rãi chắc chắn có thể góp phần giảm bớt chi phí thuốc men, giúp cho nhiều người nghèo được chữa bệnh kịp thời và có hiệu quả, nhất là người nghèo ở nông thôn hay vùng sâu, vùng xa. Cho nên việc kết hợp Đông Tây y không thể chỉ giới hạn trong khâu trị liệu mà cần mở rộng tới cả các khâu nghiên cứu và đào tạo. Theo đường hướng này, trang bị cho nhân viên trong mạng lưới y tế cơ sở những kiến thức tối thiểu và có thể thực hành về Đông y cũng là điều cần lưu ý. Hoạt động trị liệu của mạng lưới y tế cơ sở không thể chỉ là hình ảnh thu nhỏ của các bệnh viện và cơ sở chữa bệnh các tuyến trên, mà phải nối kết với truyền thống y tế dân gian ở từng địa phương cụ thể. Chính thông qua nối kết ấy, nhiều kinh nghiệm y tế dân gian sẽ được tái sinh và tái tạo, một nguồn lực lớn của y tế Việt Nam sẽ không bị lãng phí, một phần hệ thống di sản văn hóa phi vật thể - y tế truyền thống Việt Nam sẽ không bị lãng quên.

Dĩ nhiên, nếu xây dựng mạng lưới y tế cơ sở theo hướng Đông Tây y kết hợp thì còn có rất nhiều vấn đề phải đặt ra về tổ chức và pháp lý, tài chính và kỹ thuật. Nhưng điều có thể khẳng định là trong khá nhiều năm nữa, y tế truyền thống trong đó có Đông y vẫn là một bộ phận không thể bỏ qua trong chiến lược phát triển và công cuộc chấn hưng nền y tế nước nhà.

CAO TỰ THANH

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm