Ngày 26-3, Trường ĐH Sài Gòn tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Đào tạo luật trong kỷ nguyên cải cách pháp luật và chuyển đổi số: Thách thức, cơ hội và định hướng phát triển”.
Kỹ năng về tài sản số
Tại hội thảo, PGS-TS Vũ Thị Hồng Yến, Trưởng Khoa Luật, Trường ĐH Sài Gòn, nêu ra những thách thức trong lĩnh vực Luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ trong chương trình đào tạo cử nhân Luật hiện tại.
Theo bà Yến, thách thức trong lĩnh vực Luật Dân sự khi “Tài sản” và “Hợp đồng” được mã hóa. Hiện nay, phần lớn nội dung giảng dạy về “Tài sản” tại các cơ sở đào tạo luật vẫn chỉ xoay quanh các quy định truyền thống của BLDS 2015, tập trung vào vật hữu hình, tiền và giấy tờ có giá.
Trong khi đó, Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 đã chính thức mở rộng đường biên của khái niệm tài sản. Sinh viên hiện nay chưa được trang bị kiến thức để nhận diện “Tài sản số” như một đối tượng pháp lý độc lập theo Điều 46 của Luật mới.
Việc thiếu hụt kiến thức này khiến sinh viên không thể xác định chính xác đối tượng khởi kiện trong các tranh chấp dân sự, khi mà tài sản số đã được luật hóa là “tài sản theo quy định của BLDS” nhưng có đặc thù là “được thể hiện dưới dạng dữ liệu số”.
Chương trình đào tạo hiện tại chưa cung cấp cho sinh viên tư duy phân loại chuyên sâu, đặc biệt là sự phân biệt giữa “tài sản ảo” (phục vụ mục đích trao đổi, đầu tư) và “tài sản mã hóa” (sử dụng công nghệ mã hóa để xác thực). Quan trọng hơn, sinh viên thiếu kỹ năng áp dụng các quy định loại trừ để hiểu rằng các tài sản này không phải là chứng khoán hay tiền pháp định, dẫn đến rủi ro áp dụng sai luật khi tư vấn hoặc giải quyết tranh chấp.
PGS-TS Hồng Yến cho rằng chuẩn đầu ra của cử nhân Luật không chỉ là hiểu luật nội dung mà còn phải nắm vững luật hình thức và kỹ năng quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trước các quy định mới về quản lý tài sản số, sinh viên đang hoàn toàn bị động. Sinh viên chưa được đào tạo về quy trình “tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao” tài sản số, do đó không thể tư vấn cách thức bảo vệ quyền sở hữu cho thân chủ trong các vụ án ly hôn (như yêu cầu phong tỏa ví điện tử...).
Cạnh đó, các kỹ năng về phòng chống rửa tiền và an toàn an ninh mạng liên quan đến tài sản số hầu như "vắng bóng" trong các môn học Luật Dân sự hay Luật Hôn nhân và Gia đình.
Vì vậy, theo bà Yến, có 3 kỹ năng cốt lõi được rút ra trong quá trình xây dựng nội dung giảng dạy cho sinh viên về tài sản số.
Thứ nhất là kỹ năng chuyển hóa đối tượng tranh chấp. Thay vì kiện đòi chia "Bitcoin" (dễ bị bác bỏ vì tính pháp lý chưa rõ ràng), sinh viên phải biết tư duy yêu cầu chia giá trị dòng tiền đầu tư hoặc áp dụng biện pháp bù trừ tài sản (dùng bất động sản thực để cấn trừ phần tài sản số bị đối phương che giấu).
Thứ hai là nhận thức về giới hạn của quyền lực nhà nước, phân tích "sự bất lực" của cơ quan Thi hành án trước rào cản công nghệ để sinh viên hiểu rằng bản án thắng kiện sẽ vô nghĩa nếu thiếu chiến lược kiểm soát tài sản ngay từ đầu.
Thứ ba là tư duy lập pháp dự liệu, từ rủi ro "mất tài sản vĩnh viễn" khi người nắm giữ đột tử, sinh viên cần học cách tư vấn thiết lập các cơ chế thừa kế kỹ thuật số song song với di chúc truyền thống. Đây chính là cách đưa hơi thở của thời đại số vào giảng đường, đào tạo ra những luật sư trong tương lai có khả năng kiến tạo giải pháp thay vì chỉ tra cứu điều luật…
Cũng theo PGS-TS Hồng Yến, thách thức nữa là trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ đó là ai là tác giả trong kỷ nguyên AI?
Theo bà Yến, sự trỗi dậy của AI tạo sinh (Generative AI) như ChatGPT hay Midjourney..., đã làm lung lay các nền tảng lý luận về “tác giả” và “tính nguyên gốc”.
Trong đào tạo Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay, nếu giáo trình vẫn chỉ tập trung vào bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật truyền thống mà bỏ qua các vấn đề về khai thác dữ liệu, bảo vệ bản quyền trên không gian số xuyên biên giới. Điều này sẽ khiến sinh viên ra trường sẽ thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ năng bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp trong môi trường thương mại điện tử toàn cầu.
Vì vậy, bà Yến cho rằng cần trang bị cho sinh viên năng lực xử lý các tranh chấp mới về “đầu vào” và quản trị rủi ro cho “đầu ra” của AI. Chỉ khi nắm vững các nguyên lý này, cử nhân luật mới có thể bảo vệ hiệu quả tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị số toàn cầu.
Các cơ sở đào tạo có cho sử dụng AI?
Tại hội thảo, GS-TS Mai Hồng Quỳ, Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM, đặt vấn đề các cơ sở đào tạo có cho sinh viên sử dụng AI hay không?
Theo bà Quỳ, việc có cho sinh viên được sử dụng AI hay không, nếu được thì được sử dụng như thế nào cần phải xác định rõ. Trong giảng dạy có 3 trụ cột là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Trong đó, về kiến thức, có thể nói AI có kiến thức vượt trội hơn giảng viên. Khi sử dụng một câu lệnh thì AI đã cho một câu trả lời rất rõ ràng, thông tin đầy đủ. Vậy vấn đề là có cho phép sử dụng AI trong đào tạo hay không?
Nói về việc sử dụng AI, TS Đào Thị Thu Hằng, ĐH Kinh tế TP.HCM, cho rằng hiện nay chưa có một trường nào cấm việc sử dụng AI trong đào tạo. Và theo bà Hằng không cấm được và cũng không nên cấm.
Bà Hằng cho biết thực tế công tác tại ĐH Kinh tế TP.HCM, bộ phận kỹ luật vẫn có Code để có thể kiểm tra được việc bài của sinh viên có sử dụng AI hay không, mức độ sử dụng AI như thế nào.
Theo bà Hằng, các Khoa Luật và các giảng viên Luật nên cần được tập huấn các kỹ năng về việc sử dụng AI và việc kiểm tra sinh viên sử dụng AI đến mức nào, phần nào sử dụng AI, phần nào là “gia công” thêm, sáng tạo thêm của các bạn sinh viên...
Các hình thức ứng dụng AI trong đào tạo Luật
Trong đào tạo Luật, AI được ứng dụng chủ yếu dưới một số hình thức sau:
AI hỗ trợ tra cứu và hệ thống hóa văn bản pháp luật thông qua tìm kiếm thông minh và phân loại nội dung, giúp giảm thời gian tra cứu thủ công.
AI hỗ trợ phân tích án lệ và tình huống pháp lý bằng cách tổng hợp dữ liệu và gợi ý cấu trúc lập luận, qua đó hỗ trợ phát triển kỹ năng phân tích và lập luận pháp lý cho sinh viên.
AI được sử dụng để mô phỏng các tình huống xét xử, tranh tụng hoặc tư vấn pháp lý nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra, AI còn hỗ trợ đánh giá kết quả học tập và nghiên cứu pháp lý, song cần được kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm công bằng và tôn trọng quyền học thuật.
(Theo sinh viên Lâm Tố Yên, Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM)