Chuyện gạo, chuyện người

Bài hát Hạt gạo làng ta, do nhạc sĩ Trần Viết Bỉnh phổ bài thơ cùng tên của Trần Đăng Khoa là một trong hai mươi ca khúc hay nhất về đề tài nông thôn. do khán giả bình chọn tháng 7.2010. Đây là bài duy nhất trong số các bài được bình chọn viết cho thiếu nhi.

Nhạc thiếu nhi nhưng không chỉ dành cho thiếu nhi, nhạc thiếu nhi nhưng người lớn vẫn thích. Những người lớn khi cách đây mấy chục năm còn là trẻ con thích và hát bài này, bây giờ tóc đã nhá nhem bạc vẫn thích và vẫn hát. Bài hát của thời chiến tranh nhưng thời hòa bình người ta vẫn muốn nghe nó. Nghệ thuật đích thực thì không bao giờ bị lỗi mốt..

Nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhạc sĩ Trần Viết Bính.

Trước tết 1973, Hiệp định Paris được ký, Miền Bắc hết bom đạn, người già và trẻ em bắt đầu lũ lượt trở về thành phố từ nơi sơ tán. Làng Thánh Thần, nơi tôi sơ tán cách Hà Nội khoảng ba chục cây số, nằm cạnh Sông Đáy. Làng có nghề làm pháo. Ấn tượng của tôi, thằng bé 10 tuổi về những ngày hòa bình đầu tiên đó là mùi pháo thơm hơn, tiếng pháo ròn hơn. Thế thôi. Một ngày giáp tết mưa, rét, bố mẹ đạp xe về, đưa anh em chúng tôi trở lại thành phố. Thế là lại được mẹ dẫn ra bờ hồ ăn kem, vào hiệu sách Hà Nội – Huế - Sài Gòn gần đó chơi.

Tập thơ và “Góc sân và khoảng trời”, trong đó có bài Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa, mẹ mua cho tôi ở hiệu sách này. Tập thơ có những minh họa bằng bút sắt, mực đen trên giấy, rất duyên của họa sỹ Nguyễn Bích. Dù đã tái bản đến hơn chín chục lần, trung bình mỗi năm ba lần nhưng cái bản in lần đầu tiên của Nhà Xuất Bản Kim Đồng có minh họa của Nguyễn Bích năm 1973 vẫn làn bản đẹp nhất. Hôm trước tình cờ gặp Trần Đăng Khoa, nhắc đến chuyện này, tôi bảo họa sỹ Nguyễn Bích vẽ nhiều tranh sơn mài, lụa khổ lớn nhưng tác phẩm lớn nhất của ông lại là chính là những minh họa xinh xinh cho tập thơ của Khoa đấy. Khoa không biết là họa sỹ Nguyễn Bích ốm đau mấy năm nay Khoa rủ tôi đến thăm. Cái hồi chiến tranh, bom đạn thì thừa, gạo thịt thì thiếu, thế mà vẫn sống được, có lẽ một phần sống nhờ vào mấy cuốn sách, có những minh họa hay hay như thế chăng?

Để nói về hạn hán, nhọc nhằn và nhiều hơn thế Khoa viết Hạt gạo làng ta/ có công các bạn/ sớm nào chống hạn/ vục mẻ miệng gầu. Hay và khó mà hay hơn. Tôi nghĩ hồi đó Khoa chả biết gì là thơ và chả biết thế nào là hay, thì hay mêu móc có những câu, những bài thơ hay như thế cũng nên.

Năm 1969, Trần Đăng Khoa lúc này (đã có tiếng) đang bị đau mắt, cô giáo riêng của Trần Đăng Khoa đưa lên Bệnh Viện mắt ở phố Bà Triệu để chữa. Cô Duyên mặc áo phin trắng dài tay, quần Satin đen, tóc cô tết đuôi xam dài đến khoeo châu, cô bị bệnh hiểm nghèo và chết sau đó mấy năm. Nhà tôi ở phố Nguyễn Gia Thiều, gần Viện Mắt, trước khi về quê, hai cô cháu nhà Khoa vòng vèo thế nào lại rẽ vào chơi, Khoa tặng bố tôi tập thơ do ty văn hóa Hải Hưng in. Năm ấy, tôi học lớp 1, viết chữ rất xấu, bố tôi bắt tôi chép thơ Khoa để luyện, chép mãi đâm ra thuộc.

Năm 1972, ở nơi sơ tán, lần đầu đươc nghe bài hát Hạt gạo làng tôi qua loa truyền thanh đã thích ngay, nghe câu được câu chăng thôi, cho dù chú tôi đã phải trèo lên ngọn câu để mắc ăng ten nhưng chất lượng âm thanh cũng chỉ tàm tạm. Cái câu “Những năm bom Mỹ trút trên mái nhà”, nghe vừa thích vừa sợ. Chuyện là thế này: phải bỏ Hà Nội về quê để tránh bom đạn nhưng không may thế nào, cái làng Thanh Thần lại chính là nơi sơ tán của Quân y viện 103, mà hễ chỗ nào có bộ đội là máy bay Mỹ rất thích, nó ngửi thấy ngay trên B52, cứ nhè cái làng tôi ở để cắt bom, đúng là “ bom Mỹ trút trêu mái nhà”. Có khi ở nguyên tại Hà Nội lại ít bị bom hơn, lại an toàn chả biết chừng.

Năm 2003, tôi làm một triển lãm tại Gallery Thăng Long (Hà Nội) bầy 30 tranh sơn dầu và tượng hạt gạo. Tôi mời hai nhiếp ảnh gia trẻ Trần Quốc Khanh và Dương Minh Long bầy những ảnh họ chụp về ruộng lúa bậc thang ở Tây Bắc. Họ mới đi “săn” được. Tôi gọi Khoa, lúc này Khoa vừa tung “chưởng” văn xuôi chứ không phải thơ nữa, cuốn chân dung và đối thoại được các đầu nậu in đi in lại, rất hot. Tuy bận nhưng nể tình xưa nghĩa cũ, Khoa nhận lời tham gia, thực ra thì rất nhàn, Khoa chép tay bài thơ Hạt gạo làng ta ra tờ giấy A4, tôi đóng khung mạ vàng, khổ to, lồng bo treo lên tường, trông khá hoành tráng. Nhân tiện tôi photocopy mấy trăm bản tặng bà con tới xem triển lãm để thêm yếu tố hấp dẫn. Và đặc biệt nữa là tôi mới được nhạc sỹ Trần Viết Bính đến dụ khai mạc giao lưu với khách khứa.

Khách mời của triển lãm, những người bạn của chúng tôi đầu là lứa 5x, 6x họ nghe Hạt gạo làng ta và chắc là ít nhiều mỗi người đều xúc động bởi vì chúng tôi có can dự vào cái quá khứ đó, kỷ niệm đó. Những lớp người sau có những giá trị khác, họ không cần phải thích những gì chúng tôi thích nhưng nếu được thì cũng cho chúng tôi không thích một vài thứ nhạc, một vài thứ thơ, một vài thứ văn của các bạn hôm nay.

Sáng hôm kia đang nằm khoèo ở nhà, uống trà khan một mình, Khoa gọi điện, ngày mai, giờ này, ở chỗ này đến ăn trưa với mình và nhạc sỹ Trần Viết Bính. Đã 7 năm, từ triển lãm Hạt gạo, tôi mới được gặp lại nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhạc sỹ Trần Viết Bính. Chuyện Đông chuyện Tây một hồi lại kéo về chuyện Hạt gạo làng ta.

Trần Đăng Khoa làm Hạt gạo làng ta năm 1969. Nhà thơ Trần Viết Bính kể: “Năm 1971 tôi đến nhà người bạn chơi, ở ngoại thành Nam Định, tình cờ đọc bài này trong tập thơ của Trần Đăng Khoa vừa in. Trên đường từ nhà bạn về, quãng đường khoảng hai chục cây, tôi vừa đạp xe chầm chậm vừa lẩm nhẩm hát trong đầu… có thể nói bài hát Hạt gạo làng ta được sáng tác trên xe đạp cũng không ngoa. Tới nhà, tôi ngả vội cái xe vào đống rơm, lấy giấy bút chép ra là xong. Sau khi gửi cho Đài tiếng nói Việt Nam, họ mời tôi lên Hà Nội dựng cho dàn đồng ca thiếu nhi “Vàng anh”của đài.

Cả bài thơ của Khoa, tôi chỉ thay một chữ để dễ hát. Nguyên bản: Những năm khẩu súng theo người đi xa. Tôi thay khẩu bằng cây, thành Những năm cây súng theo người đi xa.

Nhạc sĩ Trần Viết Bính kể đến đây, nhà thơ Trần Đăng Khoa bảo từ những lần in sau, em đều dùng chữ cây súng của bác.

Tôi đã viết ở đâu đó cách đây vài năm rằng: Làm người khó hơn làm nghệ sĩ, khó hơn làm thi sĩ, nhạc sĩ. Sống đã, sống thế nào đi đã rồi hẵng làm nghệ thuật. Làm nghệ thuật khó nhưng làm người khó hơn cả. Nghệ thuật chính là nghệ thuật sống. Thái độ nghệ thuật chính là thái độ sống, lúc này hình như điều đó ngày càng trở nên hiếm hoi. Đoạn đối thoại trên của nhà thơ Trần Đăng Khoa với nhạc sĩ Trần Viết Bính là một đoạn đối thoại đẹp. Đằng sau nghệ sĩ và những tác phẩm của họ bao giờ cũng có một khoảng tối nhất định nhưng mẩu đối thoại ngắn ngủi hơn trên là ánh sáng, đằng sau ánh sáng, là ánh sáng của bóng tối.

Theo Lê Thiết Cương (SGTT)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới