Đề xuất theo dõi tâm thần người chịu áp lực công việc: Tránh nguy cơ 'dán nhãn'

(PLO)- Đưa người chịu áp lực công việc vào diện theo dõi rối loạn tâm thần là đề xuất nhân văn nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ khi vô tình "dán nhãn" bệnh lý cho những người chỉ đang gặp stress tạm thời.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Theo đó, dự thảo quy định chi tiết các yếu tố nguy cơ mắc rối loạn tâm thần cần đưa vào diện giám sát, bao gồm áp lực học tập, công việc, stress kéo dài và bạo lực gia đình...

Cụ thể, theo Điều 43 của dự thảo, bên cạnh giám sát người đã mắc các rối loạn tâm thần phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, ngành y tế sẽ giám sát cả người có nguy cơ mắc bệnh.

roi-loan-tam-than2.jpeg
Đề xuất đưa nhóm có nguy cơ rối loạn tâm thần do áp lực cuộc sống vào diện giám sát là một nỗ lực nhân văn và tích cực. Ảnh minh họa: AI

Cần thận trọng, tránh tác dụng ngược

Trao đổi với PLO, PGS.TS.BS Đỗ Văn Dũng, Nguyên Trưởng khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP.HCM, nhận định đề xuất đưa nhóm có nguy cơ rối loạn tâm thần do áp lực cuộc sống vào diện giám sát là một nỗ lực nhân văn và tích cực, thể hiện tư duy chuyển dịch từ trị bệnh sang phòng bệnh và phát hiện sớm nhằm bảo vệ nhóm dễ tổn thương.

Tuy nhiên, việc này tiềm ẩn nguy cơ gây tác dụng ngược khi vô tình "dán nhãn" bệnh lý cho những người chỉ đang gặp stress tạm thời, gây phiền hà và xâm phạm quyền riêng tư của người được giám sát. Cạnh đó, dàn trải nguồn lực cho một nhóm quá rộng có thể gây lãng phí cho hệ thống y tế trong bối cảnh ngân sách và nhân lực chuyên khoa còn nhiều ưu tiên cấp thiết khác.

Do-Van-Dung-dich-benh-chikungunya.JPG
PGS.TS.BS Đỗ Văn Dũng, Nguyên Trưởng khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP.HCM. Ảnh: TP

“Thay vì giám sát hành chính, giải pháp hiệu quả hơn là tập trung giáo dục nâng cao nhận thức, cung cấp các công cụ tự sàng lọc chuẩn hóa như DASS-21, gồm 21 câu hỏi dùng để đánh giá nhanh mức độ trầm cảm, lo âu và căng thẳng (stress) của một người trong tuần. Đây là phương pháp phổ biến, đáng tin cậy giúp phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần và gợi ý hỗ trợ chuyên môn.

Ngoài ra, cần khuyến khích xây dựng mạng lưới hỗ trợ đồng đẳng và phòng tư vấn nội bộ tại nơi làm việc, kết hợp với việc chi trả BHYT cho tư vấn và điều trị tâm lý để người dân chủ động tiếp cận dịch vụ khi cần” – BS Dũng đề xuất.

Theo dõi, hỗ trợ phải tùy cá nhân, bối cảnh

PGS.TS Lê Minh Công, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu và Hỗ trợ sức khỏe tinh thần – Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM), cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần của một cá nhân thường chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, không chỉ xuất phát từ áp lực cuộc sống hay công việc.

Các rối loạn tâm thần có thể liên quan đến yếu tố sinh học như cấu trúc não, rối loạn dẫn truyền thần kinh, yếu tố di truyền, tình trạng sức khỏe thể chất, cũng như những áp lực từ môi trường sống. Trong đó, stress từ cuộc sống thường được xem là yếu tố kích hoạt, làm bộc lộ các vấn đề sức khỏe tâm thần vốn đã tồn tại ở một mức độ nhất định.

PGS Lê Minh Công.jpg
PGS.TS Lê Minh Công, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu và Hỗ trợ sức khỏe tinh thần – Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn. Ảnh: NVCC

Thực tế cho thấy nhiều tình huống trong đời sống có thể tạo ra stress kéo dài, ví dụ môi trường làm việc áp lực lớn, công việc quá tải, hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên bị bạo hành; phụ nữ sau sinh thiếu sự hỗ trợ từ gia đình... “Tuy nhiên, những yếu tố này trước hết chỉ tạo ra căng thẳng tâm lý, chưa thể khẳng định là rối loạn tâm thần nếu chưa được đánh giá bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần” – PGS Công nói.

Cũng theo PGS. TS Lê Minh Công, việc phòng ngừa và phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần đã được nhiều quốc gia phát triển triển khai từ lâu. Các hoạt động này thường được thực hiện trong trường học, doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, chuyên viên tham vấn hoặc nhân viên công tác xã hội.

Trong trường hợp phát hiện những người có nguy cơ hoặc đã có rối loạn tâm thần, việc hỗ trợ và điều trị cần được thực hiện theo từng mức độ. Ở giai đoạn nhẹ hoặc ranh giới, có thể cải thiện bằng lối sống lành mạnh, thói quen tích cực hoặc tham vấn tâm lý. Khi tình trạng ở mức trung bình hoặc nặng, cần có sự can thiệp của bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc chuyên gia tâm lý lâm sàng, thậm chí nhập viện điều trị nếu bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và hành vi xã hội.

benh-tim-mach2.jpg
Theo công bố của Hội Tim mạch châu Âu (ESC) 2025, các rối loạn tâm thần có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. (Trong ảnh: Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân mắc bệnh tim mạch). Ảnh: BV Nhân Dân Gia Định

“Theo dõi và hỗ trợ những người có nguy cơ rối loạn tâm thần trong cộng đồng là cần thiết, nhưng cần thực hiện phù hợp bối cảnh, cá nhân. Chẳng hạn trong trường học, khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nguy cơ, nhà trường nên đưa các em vào hệ thống hỗ trợ để phòng ngừa sớm. Tương tự, trong các doanh nghiệp hay tổ chức, việc theo dõi và hỗ trợ cũng giúp người lao động cải thiện sức khỏe tâm thần và hạn chế các hệ quả tiêu cực” - PGS.TS Lê Minh Công nhấn mạnh.

Tuy nhiên, cần lưu ý trong lĩnh vực tâm thần, việc chẩn đoán chủ yếu dựa trên mô tả hành vi, cảm xúc và nhận thức của cá nhân, kết hợp với các thang đo đánh giá. Nếu người thực hiện sàng lọc hoặc đánh giá không đủ chuyên môn, nguy cơ “gắn nhãn bệnh lý” cho người chỉ mới có biểu hiện căng thẳng tâm lý là khá cao.

Trên thực tế đã xuất hiện tình trạng một số cá nhân không được đào tạo chuyên sâu vẫn tham gia chẩn đoán hoặc điều trị các rối loạn tâm thần, gây ra nhiều hệ lụy. Do đó, để các chính sách về sức khỏe tâm thần phát huy hiệu quả, cần làm rõ khái niệm, phạm vi và chủ thể thực hiện trong các văn bản hướng dẫn. Đồng thời, việc triển khai không chỉ thuộc lĩnh vực y tế mà còn liên quan đến giáo dục, lao động và các hệ thống xã hội khác.

Cảnh báo nguy hiểm với các rối loạn giấc ngủ

PGS.TS.BS Nguyễn Như Vinh, Trưởng phòng khám Y học giấc ngủ, BV Đại học Y dược TP.HCM, cho biết con người dành khoảng một phần ba cuộc đời cho giấc ngủ, tuy nhiên ngày càng nhiều người không ngủ đủ và ngủ không chất lượng.

Đối với người trưởng thành và lực lượng lao động, nguyên nhân thiếu ngủ chủ yếu đến từ áp lực công việc và lối sống. Giấc ngủ là thời gian để cơ thể và não bộ được nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng và phục hồi chức năng. Ngủ đủ giấc giúp duy trì sự tỉnh táo, năng lượng và hiệu suất làm việc cho ngày hôm sau.

Ngược lại, thiếu ngủ hoặc rối loạn giấc ngủ sẽ làm suy giảm chất lượng cuộc sống, giảm hiệu quả công việc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe lâu dài.

Giấc ngủ kém có thể làm suy giảm miễn dịch và sức đề kháng. Đặc biệt, các bệnh lý tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim thường xảy ra vào ban đêm hoặc rạng sáng, có thể liên quan đến rối loạn giấc ngủ, nhất là tình trạng ngáy to và ngưng thở khi ngủ – yếu tố nguy hiểm, thậm chí có thể dẫn đến đột tử khi ngủ.

Ngoài ra, ngủ muộn, ngủ ít, lệch nhịp sinh học còn làm giảm khả năng tập trung, tăng nguy cơ tai nạn lao động, tai nạn giao thông.

Theo công bố của Hội Tim mạch Châu Âu (ESC) 2025, các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn căng thẳng và các rối loạn tâm thần nặng có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

PGS.TS LÊ MINH CÔNG, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu và Hỗ trợ sức khỏe tinh thần – Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM):

Cần đầu tư cho lĩnh vực sức khỏe tâm thần

Việt Nam hiện vẫn chưa có luật riêng về sức khỏe tâm thần, trong khi lĩnh vực này còn thiếu nguồn lực và chưa được đầu tư tương xứng. Theo các nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều tổ chức quốc tế, chính sách sức khỏe tâm thần tại Việt Nam và một số nước Đông Nam Á vẫn còn hạn chế.

Do đó, cần tăng cường đầu tư tài chính cho lĩnh vực này, phát triển nguồn nhân lực đa ngành gồm bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học, nhân viên công tác xã hội và các chuyên gia liên quan.

Đồng thời, cần xây dựng các mô hình dịch vụ sức khỏe tâm thần bài bản để hỗ trợ hiệu quả các hoạt động sàng lọc, phát hiện sớm, điều trị và phục hồi, cũng như bảo đảm các nguyên tắc đạo đức và bảo mật thông tin cho người được hỗ trợ.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm