Bà Mai đã có hành vi cho phép đổ hơn 257 tấn xà bần, rác thải xây dựng (kính thải, ván ép...) trái phép trên đất do bà Mai đang quản lý và sử dụng. Việc tiếp nhận chất thải quy mô lớn mà không có giấy phép xử lý chất thải đã vi phạm nghiêm trọng quy định về bảo vệ môi trường.
Từ vụ việc trên, nhiều bạn đọc thắc mắc: Đất của bà Mai thì bà có thể cho đổ gì thì đổ, sao lại bị bắt vì cho đổ rác trên đất của mình?
Trao đổi với PV, Luật sư Nguyễn Hoàng Vũ, Đoàn Luật sư TP.HCM, cho biết: Việc khởi tố chủ đất vì cho đổ hơn 257 tấn xà bần trái phép cho thấy sự quyết liệt của chính quyền đối với các vi phạm môi trường. Pháp luật hiện hành đã quy định rất rõ nghĩa vụ của người sử dụng đất trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời xác lập trách nhiệm liên đới trong trường hợp để người khác thực hiện hành vi vi phạm trên đất của mình.
Nghĩa vụ bảo vệ môi trường của người sử dụng đất
Theo Luật Đất đai 2024 (có hiệu lực từ ngày 1-8-2024), người sử dụng đất được Nhà nước bảo đảm các quyền hợp pháp, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ gắn liền với việc sử dụng đất, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.
Cụ thể, pháp luật đất đai xác lập nguyên tắc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời bảo vệ đất, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Người sử dụng đất có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm, suy thoái đất và không được lợi dụng việc sử dụng đất để thực hiện hoặc tiếp tay cho các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, người sử dụng đất còn có nghĩa vụ xử lý, cải tạo, phục hồi đất trong trường hợp đất bị ô nhiễm, thoái hóa do hoạt động của mình hoặc từ việc quản lý, sử dụng đất không đúng quy định.
Song song đó, Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm việc chôn lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, không đúng quy định của pháp luật. Những quy định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động sử dụng, quản lý đất đai.
Trách nhiệm liên đới khi để người khác vi phạm trên đất của mình
Về nguyên tắc, người trực tiếp thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm; có thể là trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, pháp luật không chỉ xử lý người trực tiếp vi phạm, mà còn xem xét trách nhiệm của người sử dụng đất hoặc người được giao quản lý đất trong trường hợp để người khác thực hiện hành vi vi phạm trên phần đất thuộc quyền quản lý của mình.
Cụ thể, nếu chủ sử dụng đất hoặc người được giao quản lý đất cho thuê, cho mượn, góp vốn, hợp tác sản xuất - kinh doanh mà biết hoặc phải biết bên sử dụng đất có hành vi xả thải, chôn lấp chất thải gây ô nhiễm môi trường nhưng không yêu cầu chấm dứt, không ngăn chặn, để hậu quả ô nhiễm xảy ra, thì có thể bị xem xét trách nhiệm liên đới cùng với người trực tiếp vi phạm.
Cách tiếp cận này thể hiện rõ quan điểm của pháp luật hiện hành: Trách nhiệm môi trường không chỉ gắn với hành vi trực tiếp, mà còn gắn với quyền quản lý và khả năng kiểm soát đất đai.
Các loại trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh
Thứ nhất, về trách nhiệm dân sự, theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường hoặc có liên quan đến hành vi gây ô nhiễm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường. Việc bồi thường có thể được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về trách nhiệm hành chính, các hành vi gây ô nhiễm môi trường đất chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt theo Nghị định số 45/2022. Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc khắc phục hậu quả, khôi phục môi trường, cũng như chi trả chi phí giám định, đo đạc, phân tích mẫu môi trường.
Thứ ba, nếu trong 257 tấn xà bần có lẫn chất thải nguy hại (nhựa, hóa chất, pin, bóng đèn huỳnh quang...), hành vi gây ô nhiễm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng..., thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo Điều 235 Bộ luật Hình sự, với nhiều khung hình phạt khác nhau, tùy thuộc vào tính chất và mức độ hậu quả gây ra.
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, pháp luật hiện hành đã siết chặt trách nhiệm của người sử dụng đất trong bảo vệ môi trường. Việc không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm nếu người sử dụng đất hoặc người được giao quản lý đất biết, dung túng hoặc thiếu trách nhiệm trong quản lý, để hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra trên đất của mình.