Từ 2028-2030, BHYT chi trả sàng lọc ung thư vú và cổ tử cung

(PLO)- Giai đoạn 2028-2030, chi phí sàng lọc ung thư vú và ung thư cổ tử cung được BHYT chi trả, mở ra cơ hội tầm soát sớm, giảm số ca tử vong cho phụ nữ Việt Nam.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Bộ Y tế vừa ban hành kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035.

Bộ nêu rõ sẽ đưa dịch vụ sàng ung thư vú và ung thư cổ tử cung vào danh mục chi trả của BHYT. Đây là nội dung đột phá, kỳ vọng xóa bỏ rào cản tài chính, giúp hàng triệu phụ nữ được tầm soát và phát hiện bệnh sớm.

Hơn 60% bệnh nhân ung thư vú phát hiện muộn

Tại Việt Nam, ung thư vú và ung thư cổ tử cung là hai gánh nặng sức khỏe lớn nhất đối với phụ nữ. Chỉ riêng năm 2022, Việt Nam ghi nhận hơn 24.500 ca mắc mới ung thư vú và khoảng 10.000 ca tử vong.

Đáng báo động, hơn 60% bệnh nhân ung thư vú phát hiện ở giai đoạn muộn (III-IV), khiến hiệu quả điều trị thấp và chi phí chăm sóc tăng vọt. Tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 74%, thấp hơn nhiều quốc gia phát triển.

sàng lọc ung thư vú.jpg
Bác sĩ Bệnh viện Ung bướu Hà Nội khám sàng lọc ung thư vú cho người dân. Ảnh: BVCC

Còn đối với ung thư cổ tử cung, mặc dù có thể dự phòng và phát hiện sớm, căn bệnh này vẫn đang là "sát thủ thầm lặng" đối với phụ nữ Việt. Theo ước tính năm 2022, Việt Nam có hơn 4.600 ca mắc mới và 2.571 ca tử vong.

Đáng lo ngại hơn, các báo cáo giai đoạn 2020-2024 cho thấy xu hướng bệnh đang gia tăng nhanh chóng: Số ca mắc mới tăng từ mức 2.869 ca năm 2020 lên 3.895 ca năm 2024, đồng thời số ca tử vong cũng ghi nhận mức tăng trong cùng kỳ.

Gánh nặng này không chỉ đè nặng lên hệ thống y tế mà còn khiến người bệnh phải đối mặt với chi phí điều trị khổng lồ, dao động từ 368-11.400 USD (hơn 290 triệu đồng) tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và phác đồ.

Nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ mắc và tử vong cao nằm ở "khoảng trống" trong công tác dự phòng. Hiện nay, tỉ lệ phụ nữ trong độ tuổi 30-49 từng được sàng lọc ung thư cổ tử cung ít nhất một lần chỉ đạt khoảng 28%, thấp xa so với mục tiêu 60% đề ra cho năm 2025.

Bên cạnh đó, năm 2021, tỉ lệ tiêm vaccine HPV ở nhóm phụ nữ 15-29 tuổi chỉ đạt 12%. Đặc biệt, sự bất bình đẳng trong tiếp cận y tế đang ở mức báo động: Trong khi 30,8% phụ nữ người Kinh đã từng được sàng lọc, thì con số này ở phụ nữ người Mông chỉ vỏn vẹn 0,9%.

Theo Bộ Y tế, công tác dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú và ung thư cổ tử cung tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Mặc dù BHYT là trụ cột an sinh xã hội, nhưng quỹ BHYT hiện chưa chi trả cho các dịch vụ sàng lọc chủ chốt như chụp X-quang vú hay xét nghiệm HPV khi người dân đi khám chủ động, buộc việc triển khai phải phụ thuộc vào nguồn vốn dự án, viện trợ hoặc người dân tự chi trả.

"Điều này dẫn đến độ bao phủ sàng lọc thấp, không đạt mục tiêu giai đoạn 2016-2025, đồng thời dịch vụ còn phân tán và thiếu tính thống nhất của một chương trình quốc gia", Bộ Y tế nêu rõ.

BHYT chi trả cho sàng lọc định kỳ

Tại kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035, Bộ Y tế đưa ra một lộ trình tài chính rõ ràng. Theo đó, mục tiêu quan trọng là bảo đảm tài chính bền vững, chuyển dịch từ việc phụ thuộc vào các dự án sang nguồn quỹ ổn định.

Kế hoạch xác định rõ các hoạt động ưu tiên vận động chính sách bao gồm:

  1. Mở rộng danh mục BHYT: Đưa chi phí sàng lọc định kỳ, khám vú lâm sàng, chụp X-quang vú và các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán vào danh mục được BHYT chi trả.
  2. Tích hợp sàng lọc ung thư cổ tử cung: Chi phí sàng lọc ung thư cổ tử cung (như xét nghiệm HPV, tế bào học) được tích hợp vào gói quyền lợi BHYT, đảm bảo mọi phụ nữ đều có quyền tiếp cận công bằng.
  3. Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2028-2030 được xác định là thời điểm để đưa các dịch vụ sàng lọc này vào danh mục chi trả của BHYT.

Cũng theo Bộ Y tế, nhiều người lo ngại việc BHYT chi trả sàng lọc sẽ gây vỡ quỹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh điều ngược lại.

Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), việc đầu tư vào các chương trình sàng lọc và tiêm chủng rất có giá trị về mặt y tế cũng như hiệu quả kinh tế. Theo đó, chính sách có thể giúp giảm tới 300.000 số ca phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung, mang lại lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể, thu về gấp 8-20 lần chi phí về lợi ích kinh tế và xã hội kết hợp.

Kinh nghiệm quốc tế

Nhìn ra thế giới, việc BHYT chi trả cho sàng lọc ung thư không phải là điều mới lạ mà là "chìa khóa" thành công của các quốc gia có tỉ lệ tử vong do ung thư thấp.

  • Tại Úc: Chính phủ chi trả hoàn toàn cho chương trình sàng lọc ung thư vú. Phụ nữ 50-74 tuổi được mời chụp X-quang vú miễn phí 2 năm/lần. Nhờ đó, tỉ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư tại Úc vượt quá 80%.
  • Tại Trung Quốc: Nhà nước tài trợ toàn phần cho chương trình quốc gia (ưu tiên nông thôn, nhóm thu nhập thấp); thành thị có thể đồng chi trả hoặc tự chi trả một phần. Phụ nữ 35-64 tuổi ở nông thôn, 40-69 tuổi ở thành thị, có thể mở rộng 35-69 tuổi tuỳ khu vực là nhóm đối tượng mục tiêu được khám lâm sàng và siêu âm vú với chu kỳ 2-3 năm/lần.
  • Tại Hàn Quốc và Đài Loan: Hệ thống BHYT quốc gia (NHIS và NHI) chi trả cho việc sàng lọc định kỳ. Hàn Quốc thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung miễn phí 2 năm/lần cho phụ nữ từ 20 tuổi, trong khi Đài Loan sàng lọc cho phụ nữ 30-65 tuổi với chu kỳ 3 hoặc 5 năm/lần.
  • Tại Thái Lan: Đưa sàng lọc ung thư cổ tử cung vào chương trình BHYT toàn dân (UCS), cho phép người dân tiếp cận xét nghiệm HPV DNA 5 năm/lần miễn phí.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm