Liên quan đến vụ án "bán đất không bán nhà" ở Tây Ninh, mới đây, TAND Tối cao đã có văn bản gửi Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Theo đó, để có thời gian xem xét đơn đề nghị của đương sự, căn cứ khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, Chánh án TAND Tối cao yêu cầu Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh ra quyết định hoãn thi hành án đối với bản án phúc thẩm số 49/2025/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án.
Đây là vụ án mà Pháp Luật TP.HCM đã thông tin trước đó về tranh chấp nhà đất giữa bà M.T.T.Th và ông N.V.T.
Trong quá trình hai người chung sống, có tồn tại tài sản là nhà, đất tại phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Đáng chú ý, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cấp ngày 25-1-2002 chỉ mình ông T đứng tên; còn GCN quyền sở hữu nhà cấp ngày 21-2-2002 thì đứng tên cả hai người.
Theo lời khai của bà Th, sau khi không còn chung sống với nhau, ông T không ở nhà đất nêu trên nữa, nhà đất bà cho chị V thuê...
Năm 2024, ông T đã đăng ký biến động và được cấp sổ mới (chỉ ghi nhận phần đất). Sau đó, tháng 11-2024, ông tự ý chuyển nhượng cho chị L, hiện chị L đứng tên trên sổ.
Không đồng ý, bà Th khởi kiện, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T và chị L vô hiệu và yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất nói trên; bà yêu cầu được nhận nhà đất...
Về phía bị đơn, ông T xác nhận nhà đất tranh chấp là tài sản chung. Ông cũng trình bày: ông ký chuyển nhượng QSDĐ cùng căn nhà với giá 2,5 tỉ đồng. Ông đã nhận đủ tiền nhưng chưa thể bàn giao nhà đất vì nhiều lần yêu cầu chị V (người thuê nhà) rời đi nhưng không thành...
Đáng chú ý, chị L cũng trình bày tương tự, hai bên ký chuyển nhượng nhà và đất, giá 2,5 tỉ đồng nhưng trên hợp đồng chỉ ghi 1,5 tỉ để giảm bớt tiền nộp thuế. Trước khi ký hợp đồng, chị đã đến nhà đất để kiểm tra trước, đồng thời yêu cầu cán bộ địa chính đến thực hiện việc đo đạc.
Trong vụ án này, hợp đồng ký kết giữa ông T và chị L là Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (tức chỉ bán đất, không bao gồm nhà). Phía văn phòng công chứng (VPCC) cho rằng tại thời điểm ký công chứng, QSDĐ đủ điều kiện chuyển nhượng, các bên tự nguyện,... việc công chứng là đúng trình tự, quy định pháp luật.
Xử sơ thẩm, toà tuyên ông T được nhận đất và nhà, trả cho bà Th 50% giá trị tổng tài sản chung. Toà buộc ông T và chị V phải giao nhà và đất cho chị L.
Sau đó cả ông T và bà Th kháng cáo.
Theo HĐXX phúc thẩm, khi ông T chuyển nhượng đất cho chị L thì chỉ cung cấp cho chị này và VPCC giấy độc thân và GCN QSDĐ (không cung cấp giấy sở hữu nhà) nên cả hai bên không biết việc có tồn tại GCN quyền sở hữu nhà. Chị L nhận chuyển nhượng ngay tình, công khai nên việc toà án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng là có cơ sở.
Cấp phúc thẩm xét đến công sức của bà Th nên tuyên bà Th được hưởng 60% giá trị tài sản bằng tiền. Hiện vật là nhà và đất giao cho ông T. Đồng thời, tuyên ông T và chị V phải giao đất cho chị L, với tình trạng nhà và đất như đã tuyên giao cho ông T.
Không đồng ý, phía bà Th đã có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm.