Thời đại đang gọi tên những dân tộc biết tự chuyển mình và khẳng định mình trong một thế giới biến động và chuyển hóa vô cùng phức tạp. Tiếp tục 40 năm đổi mới, kỷ nguyên mới Việt Nam là thách thức mang tầm cách mạng của công cuộc chuyển hóa - hội tụ và phát triển với tốc độ cao.
Kỷ nguyên phú cường đòi hỏi một tầm nhìn mới, tâm thế và bản lĩnh đổi mới, trí tuệ hành động ngang tầm đòi hỏi sự phát triển của lịch sử dân tộc một cách tự chủ, tự do và sáng tạo.
Tầm nhìn chiến lược
Như mọi cuộc cải cách, kỷ nguyên mới phải bắt đầu từ cải cách tư duy một cách tự do để kiến tạo triết lý và cương lĩnh hành động phát triển quốc gia. Không có Việt Nam phú cường nếu không có một triết lý phát triển Việt Nam bản sắc, phù hợp và thống nhất. Triết lý đó không chỉ là khát vọng mà là tầm nhìn, tư duy và phương pháp hành động, phương lược kiến tạo tương lai và định hình sứ mệnh dân tộc, vị thế quốc gia một cách có tư tưởng trước thời đại.
Nói một cách xác đáng, kỷ nguyên mới chính là cơ hội lịch sử để dân tộc kiến tạo tâm thế và sức mạnh quốc gia với tốc độ phát triển vượt bậc mới chứ không đơn thuần chỉ là thời kỳ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay kỷ nguyên AI, mà là kỷ nguyên làm chủ vận mệnh quốc gia - kỷ nguyên của bản lĩnh trí tuệ và khát vọng Việt Nam hùng cường - kỷ nguyên đặt con người thật sự là trung tâm của phát triển nhanh, mạnh, bền vững và nhân văn - kỷ nguyên Việt Nam nhịp bước cùng thời đại.
Năm 2050 là mốc lịch sử không chỉ để Việt Nam giàu mạnh mà còn định vị vững chắc trong thế giới thống nhất, đủ tầm ảnh hưởng nhân loại. Chúng ta định vị chiến lược đất nước trong thế giới bằng sự quy chiếu từ tương lai năm 2050, với tâm thế tự do và chủ động tự vượt lên mình, tạo ra thế và lực tương xứng, quyết không rơi vào bị động, thúc thủ hoặc đuổi theo thế giới.
Đó là con đường mới mẻ của lịch sử mà chưa ai đi qua: Một quốc gia phát triển hiện đại, có bản sắc riêng - một hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả - một xã hội dân chủ, văn minh và công bằng và tiến bộ - phát triển một cách bản sắc trong thế giới thống nhất trong đa dạng, với phương thức độc đáo, sáng tạo nhưng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đó là tương lai của Việt Nam. Hoặc là hiện nay hoặc thời cơ đó khó trở lại.
Không để tư duy cũ trì kéo
Nhưng đi như thế nào? Tư duy cũ là vật cản lớn nhất của phát triển mới. Tư duy chính trị nếu không thay đổi thì tư duy phát triển và quản trị quốc gia sẽ không thể đổi mới. Tầm nhìn quốc gia phải chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Một cách tất yếu, đổi mới tư duy là bước cách mạng đầu tiên của đổi mới toàn diện. Trong tầm nhìn tương lai, quốc gia không thể phát triển nếu vẫn ngần ngại, do dự, đổi mới nửa vời, thậm chí đây đó sợ hãi đổi mới tư duy. Không thể đi tới kỷ nguyên mới bằng những tư duy cũ và càng không thể đi tới tương lai bằng những bộ máy nặng nề.
Hơn nữa, đổi mới không chỉ là kỹ thuật quản lý mà là cải cách tận gốc tư duy và phương thức chiến lược phát triển quốc gia. Do đó, trong tầm nhìn chiến lược về tương lai, cần một cuộc cách mạng về tư duy tổng thể và tư duy chính trị theo hướng dân chủ, pháp quyền và nhân văn, trước hết tư duy về lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và tư duy quản trị quốc gia của Nhà nước và hệ thống chính trị. Phải chuyển đổi tư duy toàn diện trong Đảng, chính quyền và xã hội, lấy khoa học, kiến tạo làm hạt nhân. Đặc biệt, từ tư duy về cán bộ, về lãnh đạo, về nhân tài đến tư duy về dân tộc, về toàn cầu hóa cần được cải cách toàn vẹn trong chỉnh thể hệ thống và đồng bộ một cách tự do, sáng tạo.
Sự bứt phá không đến từ khẩu hiệu mà đến từ đổi mới tư duy mang tầm hệ thống, từ con người, thể chế phù hợp và hành động một cách tự do xuất phát từ yêu cầu của tương lai và từ thực tiễn của đất nước. Việt Nam càng phải xác lập vị trí chủ động trong toàn cầu hóa, không thể mượn cớ “đi sau” để học mãi. Tư duy nhiệm kỳ là kẻ thù của tư duy chiến lược và tầm nhìn chiến lược. Do đó, sự chuyển hóa giữa thời và thế tùy thuộc trước hết vào tư duy hướng tới tương lai, theo đó hoạch định tầm nhìn và xây dựng cương lĩnh hành động chiến lược.
Tự do và phát triển, đó là phương châm kiến tạo triết lý xây dựng quốc gia phú cường mang tầm chiến lược, viễn kiến toàn cầu nhưng để hành động toàn cục, thống nhất, cụ thể vì Việt Nam phát triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn.
Thiết lập hệ giá trị cho giai đoạn phát triển mới
Lịch sử phát triển từ các quốc gia dân tộc hùng mạnh đã và đang bảo chứng rằng không có bất cứ sự phát triển xã hội nào nếu không có tự do. Đối với Việt Nam, tự do không phải là tự do trừu tượng mà là tự do tư duy, tự do sáng tạo gắn với giải phóng dân tộc và con người khỏi những trói buộc cũ kỹ, phản phát triển. Từ kinh nghiệm lịch sử 4.000 năm, trải qua 13 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và tái thiết đất nước, tự do là giá trị căn bản, là nhu cầu phát triển của độc lập quốc gia và năng lực tự quyết dân tộc.
Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới, kể từ sau năm 1986, triết lý về tự do chuyển dịch từ giải phóng dân tộc sang giải phóng sáng tạo và tự do phát triển trong thế giới hiện đại. Những thập niên năm 2000 trở đi, với độc lập - tự do - dân chủ - phát triển, tự do trở thành quyền sáng tạo, quyền tham gia, quyền làm chủ gắn với phát triển xã hội thịnh vượng, nhân văn, dân chủ, hạnh phúc như một phẩm chất và năng lực đồng kiến tạo xã hội. Tự do là thước đo của độc lập và tự nó mở ra chân trời tự do, vươn tới hạnh phúc!
Từ năm 2010 đến nay, với xu thế độc lập - tự do - nhân văn - phú cường, tự do trở thành cốt lõi của sự phát triển nhân văn và hiện đại hóa. Tự do không chỉ là quyền chính trị - xã hội mà còn là tự do trí tuệ, tự do tư duy, tự do sáng tạo, coi đó là động lực tự do hành động một cách tất yếu, vươn tới tương lai năm 2045. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do tất yếu bằng chủ động hội nhập nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự quyết một cách bản sắc.
Tự do gắn với độc lập và chủ quyền, quyền tự quyết dân tộc, nghĩa là không bao giờ có tự do cá nhân thật sự nếu quốc gia lệ thuộc; tự do là trách nhiệm, nghĩa là tự do luôn song hành với kỷ cương, pháp luật, văn hóa và tự do như động lực sáng tạo, nghĩa là con người thoát khỏi ràng buộc cũ kỹ, tự khai mở cho cái mới và sự phát triển tự nhiên, tất yếu vì đất nước.
Ba giá trị trụ cột
Với tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam cần phát triển dựa trên ba hệ giá trị: Phát triển quốc gia (bao gồm kinh tế số, công nghệ, thể chế...); phát triển giá trị Việt Nam (tập trung vào văn hóa, bản sắc, bản lĩnh hội nhập...); phát triển con người (ưu tiên giáo dục, trí tuệ và sự sáng tạo...).
Tự do không thể tách rời mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh, hạnh phúc của toàn dân tộc. Nó là phẩm giá, là nền móng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới Việt Nam phú cường, bền vững và văn hiến. Không có tự do thì không có sáng tạo và đến lượt nó, không có sáng tạo thì không có phát triển. Nghĩa là tự do để sáng tạo và nhằm phát triển.
Yêu cầu đó cấp bách, đòi hỏi xây dựng một mô hình phát triển Việt Nam: Không đơn tuyến, không vay mượn, chuyển dịch nguyên xi mà là mô hình phát triển Việt Nam vừa hiện đại vừa đặc thù. Vừa kiên định vừa sáng tạo: Giữ vững nguyên tắc hệ giá trị XHCN, đồng thời thúc đẩy sự sáng tạo đổi mới, nâng cao trí tuệ trên hiện thực đất nước và thế giới đương đại.
Trong mối liên hệ tự nhiên giữa tự do và đạo đức, tự do không phải là buông thả, mà là tự do trong khuôn khổ giá trị nhân văn và trách nhiệm xã hội. Tự do cá nhân chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với cộng đồng, dân tộc và quốc gia. Nếu tách rời đạo đức và trách nhiệm, tự do sẽ biến thành ích kỷ hoặc vô chính phủ, nghĩa là phản tự do.
Đồng thời, tự do và pháp quyền chính là tự do gắn liền với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Tự do không chỉ là quyền tự nhiên mà là quyền được bảo đảm bằng luật pháp và hiện thực nó bằng thể chế. Pháp quyền không phải để hạn chế tự do mà là hành lang và động lực làm cho tự do trở thành hiện thực, bình đẳng và bền vững.•
Nâng đỡ sự sáng tạo
Tự do và phát triển là hai trụ cột tư tưởng, là hạt nhân của triết lý phát triển Việt Nam phú cường trong tầm nhìn đến năm 2050, nhằm xây dựng: Một dân tộc tự do (độc lập, tự chủ, có bản lĩnh hội nhập mà không bị hòa tan); một xã hội phát triển (công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ - nơi tự do cá nhân hòa quyện cùng lợi ích cộng đồng); một quốc gia phú cường (sức mạnh được tạo từ tự do sáng tạo của từng công dân và sự phát triển bền vững của toàn thể cộng đồng).
Thực tiễn sau 40 năm đổi mới, Đảng lãnh đạo, cầm quyền nhằm pháp quyền hóa một cách dân chủ, đi tiên phong và nêu gương về tự do với phát triển và phát triển với tự do từ mở tầm viễn kiến, đổi mới tư duy, kiến tạo đường lối tới hoạch định cơ chế và gương mẫu hành động dẫn dắt dân tộc đi đến năm 2050 phú cường. Để hiện thực hóa trọng trách ấy, cần bứt phá có chọn lọc dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ lượng tử.
Chúng ta cần khuyến khích phát triển môi trường đổi mới sáng tạo, cả sự chấp nhận rủi ro, thử nghiệm, sai lầm. Tạo không gian tự do, nâng đỡ mọi sáng kiến và trân trọng mọi phản biện thành tâm vì giống nòi hùng mạnh. Đặc biệt, đặt con người làm trung tâm nhằm giải phóng sức sáng tạo, nâng tầm trí tuệ, khai phóng năng lực người Việt Nam như chìa khóa để không ngừng mở đường phát triển và bứt phá đúng hướng.
Về lộ trình phát triển, cần tiên lượng sự bất thường phát triển công nghệ - địa kinh tế; chuyển đổi số, kinh tế xanh, trí tuệ nhân tạo; hoạch định lộ trình đi tắt đón đầu, có chọn lọc. Đồng thời phải phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đặc quyền đặc lợi, lợi ích nhóm cát cứ... dẫn đến xâm phạm quyền tự do chính trị, kinh tế của công dân, nguy cơ phá vỡ ổn định chính trị và nền tự do của đất nước. Quyền lực không còn là thứ “sở hữu” mà phải là khả năng kết nối và ảnh hưởng thông qua thể chế tự do và sáng tạo trên nền tảng pháp luật một cách dân chủ.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm sứ mệnh dẫn dắt dân tộc và phải coi đây là khâu then chốt bảo đảm năng lực lãnh đạo - sức chiến đấu. Trách nhiệm chính trị, xã hội và công dân của chính trị gia, của đảng viên, cán bộ là gốc rễ và động lực của niềm tin. Sáng tạo chỉ có thể nảy nở khi cá nhân và cộng đồng tự do hành động trong khuôn khổ kỷ cương, đạo lý và đầy trách nhiệm trước dân tộc, trước lịch sử.