Một trong những mục tiêu chủ chốt của chiến dịch quân sự mà Mỹ-Israel phát động ở Iran là phá hủy chương trình tên lửa đạn đạo của Tehran.
Bất chấp hàng nghìn đợt không kích chính xác liên tục, Iran được cho là vẫn còn nắm giữ phần lớn kho tên lửa đạn đạo và có thể vẫn duy trì khả năng bổ sung số lượng đã bị phá hủy hoặc đã sử dụng.
Theo các quan chức tình báo và quân đội Mỹ, Iran có thể vẫn còn tới 70% kho tên lửa đạn đạo trước chiến tranh và khoảng 60% bệ phóng.
Những báo cáo này xuất hiện vài ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố chương trình này đã bị “phá hủy về cơ bản”, đồng thời thừa nhận Iran đang “đào lại” các tên lửa và bệ phóng.
Vậy thực tế thế nào? Liệu chiến dịch không kích quy mô lớn của Mỹ-Israel đã giáng một đòn chí mạng vào chương trình tên lửa của Iran, hay chỉ gây ra một bước lùi tạm thời?
Bước lùi có thể phục hồi
“Chương trình tên lửa của Iran đã bị giáng đòn rất nặng, chịu cú thụt lùi lớn nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, nền tảng của nó vẫn vững chắc và sẽ tiếp tục tồn tại” - ông Arash Azizi, giảng viên tại ĐH Yale (Mỹ), nói với tờ The New Arab.
PGS James Devine tại Khoa Chính trị và Quan hệ Quốc tế thuộc ĐH Mount Allison (Canada) cho rằng Iran sẽ không mất nhiều thời gian để tái thiết kho vũ khí như khi xây dựng ban đầu, đặc biệt nếu Mỹ tuyên bố chiến thắng và rút lui.
“Rất khó để nói chính xác mất bao lâu. Nhưng sau cuộc chiến 12 ngày (tháng 6-2025), Tehran đã tích lũy kinh nghiệm tái thiết khẩn cấp, và với kinh nghiệm trong 40 ngày qua, họ giờ hiểu rõ hơn nhiều về loại hệ thống vũ khí nào hiệu quả nhất” - ông Devine nhận định.
Theo vị PGS, Iran hoàn toàn có thể bước ra khỏi cuộc xung đột với sức mạnh lớn hơn và dày dạn kinh nghiệm vhơn.
Ông Ryan Bohl, chuyên gia phân tích cấp cao về Trung Đông và Bắc Phi tại công ty tình báo rủi ro RANE, cũng đánh giá chiến dịch này nhiều khả năng không gây ra tổn thất mang tính chí tử đối với chương trình tên lửa của Iran.
“Tôi cho rằng đã có những tổn thất, nhưng không bị tháo dỡ hay phá hủy hoàn toàn. Đồng thời, tên lửa của Iran cũng không phải là quá vượt trội; tác động trong khu vực tương đối hạn chế, với ít thương vong dân sự quy mô lớn” - ông Bohl nói với The New Arab.
Nhà phân tích của RANE đánh giá mạng lưới “các thành phố tên lửa ngầm” rộng lớn của Iran “hoạt động tương đối hiệu quả” trong suốt cuộc chiến. Ông cho rằng đây là minh chứng thực tế cho thấy Tehran sẽ muốn “tiếp tục tận dụng” mô hình này trong các cuộc xung đột tương lai.
“Không nghi ngờ gì, việc tiếp tục phát triển và tìm cách cải tiến chúng sẽ là ưu tiên cốt lõi trong chiến lược quốc phòng của Iran thời hậu chiến” - ông Bohl nói.
Ngược lại, ông Azizi cho rằng rõ ràng các tổ hợp ngầm của Iran “có điều gì đó đáng chú ý”, nhưng vẫn mang tính phô trương nhiều hơn là hiệu quả thực tế. “Chúng ta chưa thấy chúng đóng vai trò đặc biệt nổi bật” - ông nói.
Chuyên gia Devine đánh giá chiến lược tổng thể của Iran là “khá hiệu quả”.
“Điều đó bao gồm việc phụ thuộc nhiều vào UAV, nhấn mạnh vào tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn thay vì nhiên liệu lỏng, và đúng vậy, cả các ‘thành phố tên lửa’ dưới lòng đất, vốn đã giúp quân đội Iran chịu đựng được lượng tấn công rất lớn và tiếp tục chiến đấu” - ông nói.
PGS Devine nhắc lại rằng trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, liên minh do Mỹ dẫn đầu đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện và phá hủy các bệ phóng tên lửa đạn đạo Scud cơ động của Iraq.
“Với chiến lược tiêu hao này cùng cấu trúc chỉ huy phân tán kiểu ‘mosaic’ (phòng thủ khảm) của Tehran, Mỹ sẽ rất khó để vô hiệu hóa hoàn toàn sức mạnh quân sự của Iran. Tất nhiên, điều này phải trả giá cực kỳ đắt đối với cả quốc gia và người dân thường bị mắc kẹt giữa xung đột” - theo ông Devine.
Sự mâu thuẫn trong các con số
Chuyên gia Bohl của RANE cho rằng các ước tính của cộng đồng tình báo Mỹ về tỉ lệ tên lửa đạn đạo của Iran bị phá hủy trong chiến dịch Mỹ–Israel có thể hơi lạc quan.
“Điều quan trọng là Iran vẫn có thể tiến hành các đợt tấn công trong khu vực với nhịp độ tương đối thấp, khoảng 10-20 tên lửa mỗi ngày trong ít nhất vài tháng nữa nếu cần” - ông nói.
Ông Devine nhấn mạnh rằng cần phải “hết sức thận trọng” khi đánh giá năng lực còn lại của Iran.
“Không thể tin ngay vào những tuyên bố của Mỹ hay của chính phủ Iran. Mỹ và Israel tuyên bố đã phá hủy 85% hệ thống phòng không của Iran và 60%-70% số bệ phóng cũng như tên lửa” - ông Devine trích dẫn.
Chuyên gia này cho rằng các ước tính thận trọng hơn chỉ ra con số được xác nhận chỉ vào khoảng 30%. “Ngay cả khi các ước tính cao hơn là đúng, rõ ràng Iran vẫn còn trong tay một kho vũ khí đáng kể. Các cuộc tấn công bằng tên lửa và UAV giảm sau tuần đầu của xung đột nhưng sau đó duy trì ở mức khá ổn định” - ông Devine nói thêm.
Chẳng hạn, các đợt tấn công bằng tên lửa và UAV của Iran nhằm vào Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã tăng mạnh trong 10 ngày cuối trước khi ngừng bắn. Đồng thời, Tehran vẫn giữ khả năng leo thang để đáp trả các cuộc tấn công của Mỹ hoặc Israel nhằm vào cơ sở năng lượng của mình.
“Tóm lại, sẽ là sai lầm nếu cho rằng Iran không thể duy trì nỗ lực chiến tranh như trước khi ngừng bắn trong ít nhất thêm khoảng một tháng, thậm chí lâu hơn nếu họ phân bổ vũ khí thận trọng hơn” - ông Devine nói.
“Điều này còn chưa tính đến lực lượng Houthis ở Yemen. Cho đến nay, mức độ tham gia của họ vẫn còn hạn chế” - ông lưu ý.
Dù Iran đã mất hoặc sử dụng bao nhiêu tên lửa, Tehran vẫn có thể bổ sung theo thời gian, trong đó có những loại được thay thế nhanh hơn.
Vấn đề không thể thương lượng
Ngay cả trước khi xung đột bùng phát, Tehran đã từ chối đàm phán về chương trình tên lửa đạn đạo của mình, nhiều lần khẳng định kho vũ khí khổng lồ này là thiết yếu cho phòng thủ. Lập trường đó khó có khả năng thay đổi.
Chuyên gia Arash Azizi nhắc lại rằng thỏa thuận hạt nhân thời Tổng thống Barack Obama không bao gồm bất kỳ điều khoản nào về tên lửa của Iran. Hơn nữa, Nghị quyết 2231 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ chứa những ngôn từ mơ hồ liên quan tên lửa.
“Vấn đề tên lửa cũng không phải là nội dung lớn trong các tranh cãi công khai quanh các cuộc đàm phán hiện nay. Iran nhìn chung ít sẵn sàng nhượng bộ về tên lửa hơn so với hồ sơ hạt nhân. Hai bên thậm chí có thể đồng ý gạt phần lớn vấn đề này ra khỏi khuôn khổ đang được đàm phán” - ông Azizi nói.
Ông Devine cũng đồng tình, cho rằng dù có khả năng Iran cuối cùng sẽ nhượng bộ về làm giàu uranium và chương trình hạt nhân, điều đó sẽ không xảy ra với tên lửa đạn đạo và UAV. Tehran luôn khẳng định đây là vũ khí phòng thủ và việc nhượng bộ sẽ khiến họ dễ bị tấn công trở lại.
Ông Bohl cũng không cho rằng Iran sẽ đồng ý bất kỳ hạn chế nào về tên lửa trong một thỏa thuận hạt nhân rộng hơn.
“Không nghi ngờ gì, đây sẽ là vấn đề ám ảnh quan hệ Mỹ–Iran trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm tới” - theo ông Bohl.
“Và Iran giờ đã chứng minh họ có thể trụ vững trước một chiến dịch không kích trong khi chương trình tên lửa vẫn hoạt động, khiến họ càng ít động lực từ bỏ một trụ cột phòng thủ quan trọng” - ông Bohl kết luận.