Ngày 14-5, Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) tổ chức hội nghị sản phụ khoa Việt – Pháp – châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 26 (OGVFAP 2026).
Đây là một trong những sự kiện khoa học quốc tế thường niên có quy mô lớn và uy tín hàng đầu trong lĩnh vực sản phụ khoa tại Việt Nam và khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
BS CKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, nhận định những năm qua, ngành sản phụ khoa Việt Nam, đặc biệt tại TP.HCM, đã đạt nhiều thành tựu nổi bật, có nhiều lĩnh vực tiệm cận trình độ khu vực và thế giới.
Với xu hướng y học hiện đại là “chẩn đoán sớm, chính xác và can thiệp tối thiểu”, Bệnh viện Từ Dũ đã triển khai mạnh mẽ định hướng này trong hai năm qua và đạt nhiều kết quả nổi bật.
Mỗi năm bệnh viện thực hiện khoảng 47.000 ca phẫu thuật, trong đó gần 17.000 ca phụ khoa và hơn 75% được thực hiện bằng phương pháp nội soi. Bệnh viện cũng xử lý nhiều ca bệnh nặng, nguy kịch của khu vực phía Nam. Đáng chú ý, tỉ lệ tử vong mẹ tại bệnh viện liên tục giảm sâu trong các năm 2023-2025, riêng năm 2025 gần như ở mức thấp nhất.
Theo BS Hải, mục tiêu hiện nay không chỉ là điều trị chính xác mà còn phải phát hiện bệnh thật sớm, từ cấp độ phân tử, di truyền học đến giai đoạn bào thai. Y học hiện đại đang chuyển từ mô hình điều trị chung sang cá thể hóa, tức lựa chọn đúng bệnh nhân, đúng phương pháp và đúng thời điểm điều trị.
Các công nghệ mới như siêu âm thế hệ mới, nội soi buồng tử cung, dựng hình 3D, AI và y học phân tử trong sản phụ khoa giúp bác sĩ quan sát trực tiếp tổn thương, xác định chính xác vị trí bệnh lý, từ đó can thiệp tối thiểu nhưng hiệu quả hơn.
“Hiện bệnh viện có thể khảo sát chi tiết buồng tử cung, vị trí vòng tránh thai, u xơ tử cung hay các tổn thương phụ khoa thông qua nội soi và dựng hình 3D. Công nghệ AI còn hỗ trợ đánh dấu các vùng nghi ngờ tổn thương trong phẫu thuật, giúp điều trị chính xác” - BS Hải nói.
Riêng lĩnh vực y học bào thai, năm 2025 Bệnh viện Từ Dũ ghi nhận hơn 16.000 trường hợp bất thường bào thai bẩm sinh được phát hiện sớm. Bệnh viện đã sàng lọc gần 900 ca thai và phôi bất thường, triển khai hiệu quả chương trình chẩn đoán dị tật ngay từ tam cá nguyệt đầu tiên (11-13 tuần thai).
Bệnh viện đã thực hiện thành công 14 ca can thiệp tim bào thai trong 2 năm qua. Đây là kỹ thuật khó, đòi hỏi bác sĩ phải đưa kim xuyên qua thành bụng mẹ, tử cung và lồng ngực thai nhi để can thiệp vào tim thai chỉ nhỏ bằng ngón tay cái. Thành công này có được nhờ sự phối hợp giữa Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Nhi đồng 1 và Trường Đại học Y Dược TP.HCM cùng hệ thống máy móc hiện đại.
“Những thành tựu này có được nhờ sự hợp tác quốc tế sâu rộng giữa Việt Nam với các hiệp hội sản phụ khoa của Mỹ, Anh, châu Âu, Úc, Ý và Pháp. Mục tiêu cuối cùng là mọi phụ nữ và trẻ em đều có cơ hội được chẩn đoán sớm, điều trị chính xác và không ai bị bỏ lại phía sau” - BS Hải nhấn mạnh.
Bước tiến y học giúp tối đa hiệu quả, tối thiểu tổn thương
Trong nhiều thập kỷ qua, các thế hệ bác sĩ, giáo sư ngành sản phụ khoa Việt Nam đã không ngừng nỗ lực phát triển chuyên môn, cập nhật và ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến của thế giới vào thực tiễn khám chữa bệnh.
Họ là những người đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền y học Việt Nam nói chung và chuyên ngành sản phụ khoa nói riêng.
Trước đây, nhiều phương pháp điều trị đòi hỏi can thiệp phẫu thuật lớn, xâm lấn nhiều. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, y học hiện nay hướng đến các phương pháp ít xâm lấn hơn nhưng vẫn đạt hiệu quả cao. Xa hơn nữa là các kỹ thuật can thiệp tối thiểu, hạn chế tối đa tổn thương đến các cơ quan khác của cơ thể.
Hy vọng những kiến thức thu nhận từ hội nghị sẽ tiếp tục được lan tỏa rộng khắp cả nước thông qua đội ngũ bác sĩ tham dự đến từ nhiều địa phương, bệnh viện và trung tâm sản phụ khoa trên toàn quốc.
GS.TS.BS NGUYỄN VIỆT TIẾN, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam