Bộ Tài chính đang xây dựng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) để thay thế luật năm 2017, dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 vào tháng 10-2026.
Theo Bộ Tài chính, nội dung sửa đổi tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn mang tính đột phá. Trọng tâm của dự thảo là cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho vay dựa trên dữ liệu và dòng tiền, thay thế cho phương pháp thẩm định truyền thống vốn phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm.
Đây được xem là giải pháp để tháo gỡ nút thắt về vốn, đồng thời đẩy mạnh chủ trương phát triển thị trường tín dụng hiện đại theo định hướng của Bộ Chính trị về chia sẻ dữ liệu trong quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng bổ sung các công cụ tài chính sáng tạo như tài chính hỗn hợp, đồng tài trợ và đồng đầu tư để hướng trọng tâm chính sách vào từng nhóm doanh nghiệp cụ thể, phù hợp với đặc thù và tính chất của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Việc sửa đổi toàn diện các chính sách tiếp cận tài chính lần này kỳ vọng sẽ tạo ra "cú hích" lớn, giúp DNNVV giảm bớt gánh nặng về thủ tục thế chấp và tiếp cận nguồn lực tài chính nhanh chóng hơn.
Phải xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp đáng tin cậy
Đóng góp ý kiến với dự thảo, cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia đều cho rằng điểm mấu chốt không nằm ở việc bổ sung thêm bao nhiêu chính sách hỗ trợ, mà ở chỗ các quy định phải thực sự đi vào cuộc sống, giải quyết đúng những nút thắt mà doanh nghiệp đang đối mặt.
Ông Lê Anh Văn, đại diện Hiệp hội DNNVV Việt Nam đề nghị ban soạn thảo quy định rõ hơn tiêu chí xác định các nhóm doanh nghiệp ưu tiên hỗ trợ, tránh tình trạng chính sách dàn trải, thiếu trọng tâm.
Theo ông, nhiều nội dung hỗ trợ về tín dụng, tài chính, kế toán hay đất đai trên thực tế vẫn gặp vướng mắc do thiếu sự thống nhất với các luật chuyên ngành. Vì vậy, luật sửa đổi cần được thiết kế theo hướng đồng bộ, bảo đảm tính tương thích của hệ thống pháp luật để các chính sách khi ban hành có thể triển khai ngay.
Góp ý về đề xuất này, một đại diện NHNN cho rằng cơ quan soạn thảo cần tiếp tục rà soát để các chính sách hỗ trợ thực sự “trúng” và “đúng” với nhu cầu cấp thiết nhất của DNNVV. Theo đó, các cơ chế như hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng cần được thiết kế phù hợp hơn để có thể triển khai hiệu quả.
Theo vị này, để các tổ chức tín dụng mạnh dạn mở rộng cho vay với DNNVV, nhất là cho vay không có tài sản bảo đảm, điều quan trọng nhất là phải xây dựng được cơ sở dữ liệu doanh nghiệp đầy đủ, minh bạch và đáng tin cậy.
Hệ thống dữ liệu này cần phản ánh toàn diện tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền thực tế đến nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội, tiền lương và thanh toán dịch vụ.
Khi có nguồn dữ liệu chuẩn hóa và được chia sẻ hiệu quả, ngân hàng sẽ có cơ sở vững chắc hơn để đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng các tổ chức tín dụng cần thay đổi phương thức đánh giá doanh nghiệp theo hướng linh hoạt hơn, tăng cường ứng dụng công nghệ để phân tích dữ liệu, dòng tiền theo thời gian thực, thay vì chỉ dựa vào hồ sơ tài chính quá khứ.
Bộ Tài chính cho biết, tỉ trọng dư nợ dành cho DNNVV chỉ duy trì ở mức thấp, khoảng 19 - 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Nguyên nhân phần lớn do mức hấp thụ tín dụng của DNNVV còn hạn chế, quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động; năng lực chứng minh tính khả thi của dự án, phương án vay vốn còn yếu...
Việc tiếp cận nguồn vốn qua Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và Quỹ phát triển DNNVV còn nhiều hạn chế và các quỹ này chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Thực tế, số liệu của NHNN, đến cuối tháng 4, dư nợ nền kinh tế đạt trên 19,4 triệu tỉ đồng, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tín dụng cho khu vực DNNVV chỉ đạt gần 3,8 triệu tỉ đồng. Con số này chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, nhưng nếu so với vai trò đóng góp vào GDP và số lượng áp đảo của khối DNNVV trong nền kinh tế, tỉ trọng này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu thực tế.
Đặc biệt, trong báo cáo tài chính của các ngân hàng, bất động sản áp đảo danh mục tài sản thế chấp, trong khi đây là điểm yếu của các DNNVV.
Cho vay theo dòng tiền khó triển khai đại trà
Cũng kỳ vọng chính sách cởi mở hơn để những DN đáp ứng điều kiện có thể tiếp cận được vốn, song, TS Nguyễn Đức Độ - nguyên Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính - cho rằng việc cho vay theo dòng tiền sẽ khó có thể triển khai một cách đại trà.
Lý do là tính ổn định của DNNVV không cao bằng các DN lớn, vì vậy khả năng trả nợ của họ cũng có độ rủi ro cao hơn. Thêm vào đó, tính công khai minh bạch về tài chính của nhóm DN này cũng là rào cản dẫn đến khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Trong khi đó, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dùng vốn nhà nước nên khi thẩm định khoản vay, họ phải chịu trách nhiệm về việc đòi được nợ. Do đó, các DNNVV cần thay đổi, minh bạch tài chính, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi… thì mới tiếp cận được vốn.
Còn luật sư Bùi Văn Thành, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VAIC), lo ngại đề xuất này khó khả thi với hệ thống ngân hàng thương mại hiện tại.
Dẫn chứng từ kinh nghiệm Đài Loan, một nền kinh tế rất thành công trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Thành đề xuất cần phát huy tối đa vai trò của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Để doanh nghiệp tiếp cận vốn mà không cần thế chấp, quỹ này (có thể là quỹ bảo lãnh trung ương) phải thực sự đứng ra bảo lãnh rủi ro cho các khoản vay của doanh nghiệp.
Góp ý dự án luật, Hiệp hội DNNVV Việt Nam đề nghị mở rộng cơ chế cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch mở rộng thị trường và mức độ tín nhiệm.
Nếu doanh nghiệp chưa đủ điều kiện thì tổ chức tín dụng, quỹ phải hướng dẫn rõ. Đồng thời cần có hướng dẫn để chấp nhận tài sản vô hình, quyền tài sản, tài sản hình thành trong tương lai và đẩy mạnh số hóa thủ tục vay vốn.
Các chuyên gia đều cho rằng việc đưa cơ chế cho vay dựa trên dữ liệu và dòng tiền vào Luật Hỗ trợ DNNVV là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển của tài chính hiện đại.
Tuy nhiên, để cơ chế mới vận hành hiệu quả, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu kết nối giữa cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, ngân hàng và các nền tảng số. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu và bảo vệ thông tin doanh nghiệp.
Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu lực từ năm 2018, sau 8 năm triển khai, tuy đã đạt nhiều kết quả quan trọng song cũng bộc lộ một số hạn chế. Một trong số đó là phương thức và cơ chế tài chính để hỗ trợ DNNVV chưa đổi mới và theo kịp thị trường, còn nặng thủ tục hành chính.
Do đó, việc nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ DNNVV là rất cần thiết. Dự án luật tập trung vào 4 nhóm chính sách trọng tâm gồm sửa đổi tiêu chí xác định DNNVV; rà soát sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ; phát triển hệ sinh thái hỗ trợ; đổi mới công cụ, phương thức, cơ chế tài chính thực hiện hỗ trợ DNNVV, số hóa toàn diện quy trình hỗ trợ, giám sát và đánh giá kết quả hỗ trợ.
Với nhóm chính sách hỗ trợ, Bộ Tài chính thiết kế 2 giải pháp nhằm hỗ trợ DNNVV tiếp cận tài chính.
Giải pháp thứ nhất là sửa đổi toàn diện các nội hàm chính sách về tiếp cận tài chính như thí điểm cơ chế sandbox, cho vay dựa trên dòng tiền... Bổ sung chính sách cho DNNVV vay ưu đãi đầu tư nghiên cứu công nghệ, phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; sửa đổi toàn diện mô hình tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV...
Giải pháp thứ hai là sửa đổi, bổ sung các quy định để khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị; nghiên cứu thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng ở trung ương để thực hiện bảo lãnh cho DNNVV; hoàn thiện hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV đồng bộ với Nghị quyết 198/2025.
Hiện bộ đưa ra lựa chọn giải pháp thứ nhất.