Một ‘cò lúa’ phải trả lại tiền cọc 750 triệu vì không cung cấp đủ 1.330 tấn lúa theo thỏa thuận

(PLO)- Ông L nhận tiền cọc 1,035 tỉ đồng để mua 1.950 tấn lúa cho ông B nhưng mới giao được 620 tấn, tương ứng tiền cọc 285 triệu, còn 750 triệu vì không giao đủ số lúa nên tòa buộc trả lại.

Vừa qua, TAND tỉnh An Giang đã ban hành bản án phúc thẩm về tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua lúa giữa nguyên đơn là ông Lê Văn B và bị đơn là ông Ngô Hoàng L. Ông B đòi ông L phải trả lại tiền cọc 750 triệu.

Đặt cọc 1,035 tỉ để mua 1.950 tấn lúa

Theo hồ sơ, ông B trình bày giữa ông và ông L có quen biết làm ăn qua lại với nhau. Ông B đi thu mua lúa cho công ty, còn ông L làm nghề cò lúa. Đến vụ Đông Xuân năm 2024, cụ thể là ngày 12-11-2023, ông B và ông L có thỏa thuận là ông L mua cho ông số lượng 1.950 tấn lúa gồm các loại ST25, Đài thơm với số lượng và tiền cọc mỗi loại cụ thể cho từng loại giá…

Thu hoạch lúa ở miền Tây. Ảnh minh họa: CTV

Tổng cộng, ông đã giao tiền cọc cho ông L số tiền 1,035 tỉ đồng. Tất cả các lần đặt cọc cũng như hợp đồng viết giấy tay ông L có ký nhận, có lần ông chuyển khoản cho ông L vào số tài khoản ngân hàng do ông L đứng tên.

Đến ngày thỏa thuận nhận lúa, ông B cho ghe tới cân thì ông L chỉ giao được 250 tấn lúa ST25 và 370 tấn lúa Đài thơm, khấu trừ hai khoản trên thì trừ tiền cọc 285 triệu tương đương 620 tấn. Số lúa còn lại 1.330 tấn lúa của hai giống ST25 và Đài thơm thì ông L không có lúa để giao cho ông tương ứng với số tiền cọc đã đưa 750 triệu đồng.

Sau đó, ông có gặp ông L yêu cầu giao lúa theo hợp đồng nhưng ông L vẫn không có lúa để giao nên ông yêu cầu ông L phải hoàn trả lại số tiền cọc 750 triệu nhưng ông L không đồng ý trả lại.

Ngày 15-3-2024 ông làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết thì hai bên hòa giải tại ấp, ông L nói còn 80 tấn lúa ở xã, hẹn 9 giờ ngày 16-3-2024 đến thỏa thuận lại giá lúa với dân, nghe vậy ông cũng chấp nhận.

Đến ngày 16-3-2024, ông B đến địa điểm ông L chỉ thì gặp người tên T, ông này nói ông không liên quan đến việc đặt cọc lúa giữa ông B và ông L, dẫn đến ông B không cân được lúa. Ông đã điện thoại cho ông L thì không liên lạc được. Nay ông yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông L trả lại cho ông số tiền cọc 750 triệu đồng.

Tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm ông L thừa nhận có làm ăn qua lại với ông B như ông B trình bày, ông có nhận số tiền cọc của ông B 1,035 tỉ đồng. Số tiền đã trừ cọc 285 triệu đồng là đúng, còn lại chưa trừ là 750 triệu. Lý do, không trừ được cọc là do ông B không đưa ghe đến cân lúa, số tiền cọc ông đã bỏ cọc hết cho dân. Do ông B không cân nên mất cọc 1.200 tấn lúa ST25 thỏa thuận cân vào các ngày 24, 25, 26, 29-1-2024 (âm lịch) và ngày 3, 5-2-2024 (âm lịch).

Ông L cho rằng do ông B không đem ghe đến cân lúa, dẫn đến người dân bán lúa cho người khác nên không trừ được tiền cọc cho ông B, đây là lỗi của ông B. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông B.

Chứng cứ của nguyên đơn thuyết phục hơn

Xử sơ thẩm, TAND khu vực 5 - tỉnh An Giang đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, buộc ông L phải trả lại tiền cọc 750 triệu cho ông B.

Sau đó, ông L kháng cáo bản án. Xử phúc thẩm, TAND tỉnh An Giang nhận định, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có việc đặt cọc mua lúa, số tiền nguyên đơn đặt cọc mà bị đơn đã thực nhận là 1,035 tỉ. Sau đó bị đơn chỉ giao cho nguyên đơn số lúa tương đương trừ phần cọc 285 triệu nên bị đơn còn giữ của nguyên đơn số tiền cọc là 750 triệu.

Do đó, có cơ sở để xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập một hợp đồng đặt cọc để thực hiện hợp đồng mua bán lúa. Tuy nhiên, các bên không có thoả thuận cụ thể về thời gian giao lúa và các điều khoản cụ thể khác như chất lượng, số lượng, địa điểm giao lúa từng đợt...

Trong việc thực hiện mua bán lúa, các bên chỉ thoả thuận miệng giao và nhận lúa trước ngày 10-12-2023 (âm lịch). Nguyên đơn cho rằng bị đơn không giao lúa khi đến hẹn, bị đơn cho rằng có giao lúa nhưng nguyên đơn không đưa ghe đến để nhận lúa là vi phạm hợp đồng nên mất cọc, vì thế bị đơn không đồng ý trả lại 750 triệu.

Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh đã thực hiện việc yêu cầu phía nguyên đơn điều ghe để nhận lúa nhưng nguyên đơn không thực hiện, dẫn đến không có cơ sở để chứng minh rằng nguyên đơn đã vi phạm hợp đồng giữa các bên.

Mặt khác, nguyên đơn cung cấp được đơn yêu cầu ấp giải quyết việc bị đơn không giao lúa cho phía nguyên đơn, điều này phù hợp với trình bày của nguyên đơn.

Đến ngày 15-3-2024, ấp tiến hành giải quyết theo đơn của nguyên đơn, trong nội dung biên bản làm việc tại ấp thể hiện nguyên đơn vẫn cho rằng bị đơn không giao đủ lúa cho nguyên đơn, bị đơn cũng thống nhất phần còn lại của lúa Đài thơm sẽ tiếp tục giao, lúa ST25 thì không thống nhất giá lúa.

Bị đơn hoàn toàn không đề cập đến lý do không giao được lúa là do nguyên đơn không điều ghe đến nhận lúa là vi phạm hợp đồng nên mất cọc. Do đó, lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra, bị đơn cho rằng đã đặt cọc cho người dân để mua lúa, thể hiện thông qua các văn bản là hợp đồng mà bị đơn đã ký với người dân (bị đơn cung cấp ở giai đoạn sơ thẩm) nhưng khi xem xét thời gian trên các hợp đồng này không phù hợp với thời gian mà phía nguyên đơn tiến hành giao tiền đặt cọc cho bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm xác minh những người có tên trong các hợp đồng này thì họ cho rằng không có nhận cọc và mua bán với bị đơn.

“Từ những chứng cứ nêu trên, HĐXX phúc thẩm thấy rằng, tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại số tiền đặt cọc 750 triệu cho nguyên đơn là có căn cứ” – bản án nêu.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới