Ngày 4-4, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Đề án).
Theo Đề án, văn hóa số sẽ trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời bảo đảm tài nguyên văn hóa được số hóa, chia sẻ hiệu quả để phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý là đến năm 2030, 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung. Toàn bộ dữ liệu về di sản văn hóa đã số hóa sẽ được chuẩn hóa theo khung dữ liệu quốc gia và chia sẻ theo quy định.
Đề án cũng đặt mục tiêu ít nhất 80% di sản văn hóa số công được gắn mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát việc khai thác. Người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng được khuyến khích xác lập mã định danh và quyền sở hữu đối với tài sản văn hóa số nhằm thúc đẩy hình thành thị trường.
Đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể sẽ được số hóa và lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Về quản lý nhà nước, đến năm 2030, 100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa sẽ kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Toàn bộ đơn vị quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành văn hóa phải xây dựng kế hoạch, lộ trình chuyển đổi số phù hợp.
Đề án yêu cầu 100% hệ thống thư viện quốc gia, bảo tàng quốc gia về lịch sử và văn hóa cùng các bảo tàng công lập hoàn thiện mô hình thư viện số, bảo tàng số, tiến tới thư viện, bảo tàng thông minh. Đồng thời, dữ liệu sẽ được tích hợp, kết nối và chia sẻ trong mạng lưới thư viện, bảo tàng trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, ít nhất 70% bảo tàng, thư viện, nhà hát, đoàn nghệ thuật, liên đoàn thể thao, khu du lịch, cơ quan báo chí và doanh nghiệp nội dung số sẽ kết nối, chia sẻ dữ liệu với hạ tầng dữ liệu dùng chung của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đề án cũng hướng tới việc thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng miền.
Theo đó, ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số. Đồng thời, 80% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận, hưởng thụ các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số.
Song song đó, 100% cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức, văn nghệ sĩ, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc ngành văn hóa, nghệ thuật sẽ được tiếp cận, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số.
Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, có tính tương tác cao; vừa bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc, vừa lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Trong đó, các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo được kỳ vọng trở thành trụ cột bền vững, đóng góp khoảng 9% GDP. Quy mô sản phẩm công nghiệp văn hóa số sẽ chiếm trên 80% tổng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Đề án đưa ra nhóm nhiệm vụ, giải pháp nền tảng gồm hoàn thiện thể chế, chính sách; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính; phát triển nguồn nhân lực; đầu tư hạ tầng số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong chuyển đổi số văn hóa.
Ngoài ra, Đề án xác định 8 lĩnh vực ưu tiên cần triển khai giải pháp chuyên biệt gồm: di sản văn hóa; nghệ thuật biểu diễn và văn học; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; điện ảnh; thư viện; báo chí - truyền thông; văn hóa cơ sở; văn hóa các dân tộc thiểu số.