Phát biểu tại phiên họp tổ sáng 10-4, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải tháo gỡ các “nút thắt” thể chế, điều chỉnh chính sách năng lượng và xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ để tạo động lực tăng trưởng.
Thể chế còn “vênh” với thông lệ quốc tế
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, dù Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 32 thế giới nhưng hệ thống pháp luật vẫn còn khoảng cách so với thông lệ quốc tế. Ông dẫn chứng, quốc tế thường giao dịch mặt hàng chiến lược trên sàn với khung giá rõ ràng, trong khi Việt Nam áp dụng cơ chế đấu thầu, phát sinh khâu trung gian và chi phí cơ hội.
Thực tế này đòi hỏi sớm điều chỉnh để tiệm cận thông lệ quốc tế, tháo gỡ rào cản thể chế nhằm thúc đẩy tăng trưởng.
Phân tích về yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng Việt Nam đang có lợi thế lớn từ môi trường chính trị ổn định và chi phí năng lượng thấp.
Tuy nhiên, mức giá năng lượng thấp hiện nay chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực tế, đặc biệt là các khâu truyền tải, điều độ và phân phối điện chưa được hạch toán đúng, đủ. Điều này khiến giá năng lượng tại Việt Nam thấp hơn tương đối so với khu vực, tạo lợi thế đáng kể cho doanh nghiệp FDI.
Hiện nay, khu vực FDI chiếm khoảng 72 - 74% tổng giá trị xuất khẩu, đồng nghĩa với việc đang hưởng lợi lớn từ chi phí năng lượng rẻ, nhân công thấp và thị trường xuất khẩu rộng mở từ các hiệp định thương mại tự do.
Từ đó, ông cho rằng cần chấn chỉnh chính sách thu hút đầu tư theo hướng nâng cao chất lượng, không chỉ thu hút vốn mà phải gắn với công nghệ, năng lực quản trị và khả năng lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tái tạo nguồn lực phát triển từ các dự án “đắp chiếu”
Ở góc độ nội tại nền kinh tế, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên chỉ ra thực trạng nhiều doanh nghiệp lớn trong nước chủ yếu tập trung vào bất động sản, trong khi đầu tư vào sản xuất, nhất là công nghệ cao còn hạn chế. Điều này khiến dòng tiền trong xã hội có xu hướng “chôn” vào đất đai, vàng hoặc chảy ra nước ngoài thay vì đi vào sản xuất.
Do đó, cần tạo dựng môi trường để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Liên quan đến chính sách thuế, ông bày tỏ sự đồng tình với việc tăng cường quản lý, song lưu ý cần có lộ trình phù hợp để vừa đảm bảo nguồn thu, vừa nuôi dưỡng sức dân và doanh nghiệp, tránh gây sốc cho nền kinh tế.
Đáng chú ý, Phó Chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh tình trạng hàng loạt dự án trên cả nước bị chậm tiến độ, kéo dài nhiều năm gây lãng phí lớn nguồn lực. Ông cho biết có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dự án với tổng vốn lên tới hàng trăm tỉ USD đang bị “đắp chiếu”, tương tự hiện tượng “thành phố ma” từng xuất hiện ở một số quốc gia.
Việc các dự án này không được đưa vào sử dụng khiến chi phí lãi vay liên tục gia tăng, làm thất thoát lớn cho nền kinh tế. Ông dẫn chứng, riêng 173 dự án năng lượng tái tạo đã có tổng mức đầu tư khoảng 13 tỉ USD vẫn đang vướng mắc, bên cạnh nhiều dự án lớn như Bệnh viện Bạch Mai 2, Việt Đức 2 hay dự án chống ngập 10.000 tỉ đồng tại TP.HCM.
"Nếu tháo gỡ được các dự án này, nguồn lực được giải phóng sẽ rất lớn, tạo sức bật đáng kể cho tăng trưởng ngay trong năm 2026" - ông Diên nói.
Liên quan đến chính sách thuế xăng dầu, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng việc ban hành chính sách thuộc thẩm quyền của Quốc hội, song cần có cơ chế ủy quyền linh hoạt cho Chính phủ để kịp thời điều hành.
Chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hai chiều, tức là khi giá thế giới tăng thì giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân nhưng khi giá giảm thì phải tăng thuế trở lại nhằm tránh thất thu ngân sách và ngăn chặn trục lợi.
Theo tính toán, việc giảm thuế xăng dầu có thể làm giảm thu khoảng 7.000 tỉ đồng mỗi tháng, song có thể được bù đắp từ tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu. Đối với nhiên liệu hàng không, ông đề nghị cần có chính sách riêng để tránh tình trạng lợi dụng chênh lệch giá.
Về dự trữ xăng dầu quốc gia, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là vấn đề mang tính chiến lược, cần được Quốc hội xem xét, quyết định. Dù việc đầu tư hệ thống kho dự trữ có thể tiêu tốn hàng tỉ USD và không mang lại lợi nhuận trực tiếp nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng, giúp Nhà nước có công cụ can thiệp thị trường khi cần thiết.
Kịch bản đảm bảo xăng dầu nếu xung đột kéo dài
Thảo luận tại tổ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết Chính phủ đã chủ động xây dựng nhiều kịch bản nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, đặc biệt là nguồn cung xăng dầu trong trường hợp xung đột Trung Đông kéo dài.
Ông cho hay hiện nguồn cung xăng dầu trong nước đã tự chủ khoảng 70% nhờ hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn, phần còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu, chủ yếu từ khu vực ASEAN và nguồn dầu thô Trung Đông. Tuy nhiên, dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông tối thiểu vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, linh hoạt.
Bộ trưởng nhấn mạnh mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm đủ nguồn cung, không để đứt gãy trong mọi tình huống, đồng thời giữ ổn định giá để hạn chế tác động đến kinh tế vĩ mô và đời sống người dân.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã xây dựng các kịch bản ứng phó, gồm kịch bản cơ sở khi chiến sự kết thúc trong 4 tuần, kịch bản kéo dài thêm và phương án dự phòng nếu xung đột vượt quá 4 tuần. Hiện diễn biến thực tế đang theo kịch bản thứ hai và nhiều giải pháp đã được triển khai.
Trong trường hợp chiến tranh tiếp tục kéo dài, Bộ trưởng cho biết đã chỉ đạo các nhà máy lọc dầu trong nước vận hành ở công suất cao, cơ cấu lại sản phẩm theo hướng tăng sản lượng xăng dầu, giảm các sản phẩm phi năng lượng.
Đồng thời, hệ thống phân phối với 26 thương nhân đầu mối, 265 thương nhân phân phối và hơn 17.000 cửa hàng bán lẻ được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm lưu thông thông suốt, không để xảy ra tình trạng găm hàng, đầu cơ.
Song song đó, các công cụ điều hành giá cũng được sử dụng linh hoạt, trong đó có quỹ bình ổn để giữ ổn định mặt bằng giá, góp phần kiểm soát chỉ số CPI. Nhờ các giải pháp này, số ngày dự trữ xăng dầu đã được nâng từ 15 lên khoảng 26 ngày, nguồn cung trong nước duy trì ổn định, không bị gián đoạn. Đáng chú ý, giá xăng dầu trong nước, đặc biệt là dầu diesel, vẫn thấp hơn mức bình quân thế giới và thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực.
Về lâu dài, Bộ trưởng Bộ Công Thương cho rằng cần sớm cập nhật chiến lược năng lượng quốc gia, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu, hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ nhập khẩu năng lượng sơ cấp từ 43,9% xuống còn 30% vào năm 2030; tăng tính chủ động, linh hoạt trong điều hành để ứng phó hiệu quả với các biến động toàn cầu.