Góp ý dự thảo Luật Đô thị đặc biệt:

Xã hội hóa dịch vụ công: Người dân được lợi gì?

(PLO)- Theo các chuyên gia, xã hội hóa có kiểm soát một số khâu chuyên môn, nghiệp vụ trong dịch vụ công ở TP.HCM cần bổ sung các nguyên tắc kiểm soát bắt buộc và phải bảo vệ được dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh.

Tại Nghị quyết 09-NQ/TW, Bộ Chính trị định hướng TP.HCM được triển khai xã hội hóa có kiểm soát một số khâu chuyên môn trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho người dân, cho phép huy động các tổ chức tư vấn, dịch vụ công đủ điều kiện tham gia thực hiện. Nội dung này đang được TP.HCM đề xuất cụ thể hóa tại Điều 10 dự thảo Luật Đô thị đặc biệt.

Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, ThS Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn, cho rằng điểm mới của đề xuất này là chuyển từ tư duy cơ quan nhà nước tự làm tất cả sang tư duy Nhà nước giữ quyền quyết định nhưng huy động nguồn lực xã hội tham gia các khâu hỗ trợ, kỹ thuật, chuyên môn phù hợp. Dù vậy, TP cần thận trọng và có cơ chế chặt chẽ về mặt pháp lý để không tạo thêm “cửa phụ” trong tiếp cận dịch vụ công.

2026-9-6-P4+5-Luat-DTDB-xa-hoi-hoa.JPG
Cán bộ tại Trung tâm phục vụ hành chính công TP.HCM kiểm tra, xử lý các thủ tục cho người dân, doanh nghiệp. Ảnh: LÊ THOA

Hợp tác công tư để bổ trợ cho nền hành chính

. Phóng viên: Thưa ông, việc xã hội hóa một số khâu trong giải quyết TTHC nếu được thực hiện có ý nghĩa như thế nào với TP.HCM?

+ ThS Nguyễn Tuấn Anh: Đây là đề xuất rất đáng chú ý vì chạm đúng điểm nghẽn lâu nay của nền hành chính đô thị lớn. TP.HCM là địa bàn có quy mô dân số, doanh nghiệp (DN), giao dịch dân sự, đất đai, xây dựng, đầu tư rất lớn. Khối lượng hồ sơ phát sinh hằng ngày tại các trung tâm phục vụ hành chính công luôn ở mức cao. Trong khi đó, yêu cầu chung là tinh gọn bộ máy.

Điều 10 dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã cho phép cơ quan hành chính của TP.HCM triển khai hợp tác công tư với một số bước, công việc chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ trong tiếp nhận, xử lý, giải quyết TTHC.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng đây không phải là “tư nhân hóa quyền lực hành chính”. Nhà nước không chuyển giao thẩm quyền cấp phép, phê duyệt, xác nhận, từ chối hồ sơ cho tổ chức bên ngoài. Phần có thể xã hội hóa là các khâu hỗ trợ như hướng dẫn, kiểm tra thành phần hồ sơ, số hóa, chuẩn hóa dữ liệu, tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ người dân nộp hồ sơ trực tuyến, đo vẽ, lập bản vẽ, chuẩn bị tài liệu chuyên môn. Cơ quan nhà nước vẫn giữ quyền thẩm định cuối cùng, quyết định và chịu trách nhiệm cuối cùng.

Hợp tác công tư trong lĩnh vực này vì vậy phải được thiết kế như một cơ chế bổ trợ cho nền hành chính, giúp cán bộ, công chức tập trung vào khâu cốt lõi là xem xét, thẩm định, quyết định và chịu trách nhiệm. Nếu làm tốt, mô hình này sẽ giảm hồ sơ sai, thiếu, giảm số lần người dân phải đi lại, cán bộ quá tải ở khâu hướng dẫn ban đầu, đồng thời tận dụng được năng lực chuyên môn, công nghệ và dịch vụ của xã hội.

2026-9-6-P4+5-Luat-DTDB-Nguyen-Tuan-Anh.jpg
ThS Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn.

Không biến thành đặc quyền

. Liệu việc này cho phép tổ chức bên ngoài tham gia vào quy trình của cơ quan nhà nước có thể làm phát sinh những vấn đề gì, thưa ông?

+ Nếu không thiết kế rõ ràng, xã hội hóa có thể bị biến thành tầng nấc trung gian mới khiến người dân nghĩ rằng muốn hồ sơ nhanh thì phải qua dịch vụ. Đây là điều chúng ta cần tránh tuyệt đối. Một mô hình cải cách hành chính đúng nghĩa phải làm cho người dân thuận tiện hơn, chi phí rõ ràng hơn, thời gian ngắn hơn chứ không tạo thêm “cửa phụ” trong tiếp cận dịch vụ công.

Rủi ro thứ hai là nguy cơ hình thành lợi ích nhóm. Nếu chỉ vài tổ chức được chọn, tiêu chí lựa chọn không công khai hoặc nếu tổ chức dịch vụ vừa tư vấn lập hồ sơ vừa có khả năng tác động đến khâu thẩm định… thì mô hình này rất dễ bị méo mó. Vì vậy, điều đầu tiên là phải tách bạch giữa hỗ trợ dịch vụ và quyền lực hành chính. Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã nêu rõ nguyên tắc xã hội hóa không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, không chuyển giao thẩm quyền quản lý nhà nước cho tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước.

Tiếp đó, tiêu chí lựa chọn tổ chức tham gia cần được quy định cụ thể. Tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân rõ ràng, năng lực chuyên môn phù hợp, nhân sự có chứng chỉ hoặc kinh nghiệm tương ứng, công nghệ đáp ứng yêu cầu bảo mật... Việc lựa chọn cần theo cơ chế công khai, cạnh tranh, có danh sách nhiều đơn vị đủ điều kiện để người dân, DN lựa chọn.

Muốn tránh độc quyền, theo tôi, TP.HCM không nên giao trọn một nhóm thủ tục cho duy nhất một địa bàn hoặc đơn vị. Thay vào đó, TP cần có cơ chế cấp phép đủ điều kiện, xếp hạng chất lượng, kiểm tra định kỳ, loại khỏi danh sách nếu vi phạm.

Ngoài ra, phí dịch vụ, phạm vi công việc, thời gian cam kết, trách nhiệm bồi thường, kênh phản ánh cũng phải được công khai. Cán bộ nhà nước không được giới thiệu, định hướng, ép buộc người dân sử dụng một tổ chức dịch vụ cụ thể. Đây là hàng rào rất quan trọng để xã hội hóa không biến thành đặc quyền.

. Vậy theo ông, nếu triển khai thì TP.HCM nên chọn xã hội hóa ở khâu nào trước?

+ Theo tôi, nhóm việc TP.HCM nên làm trước là hướng dẫn kê khai hồ sơ trực tuyến, kiểm tra sơ bộ thành phần hồ sơ, số hóa tài liệu, chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, hỗ trợ đặt lịch, theo dõi tiến độ, hướng dẫn bổ sung hồ sơ, hỗ trợ người dân lớn tuổi hoặc người ít kỹ năng số tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Đây cũng là những khâu đang gây quá tải nhiều nhất ở bộ phận một cửa.

Nhóm thứ hai là các dịch vụ kỹ thuật chuyên môn trong những lĩnh vực hồ sơ thường phức tạp như đất đai, xây dựng, quy hoạch, đăng ký kinh doanh... Khi đó, tổ chức đủ điều kiện có thể hỗ trợ đo vẽ hiện trạng, lập bản vẽ, rà soát điều kiện ban đầu, số hóa bản đồ, chuẩn hóa hồ sơ DN. Tuy nhiên, thẩm định tính hợp pháp, ký duyệt, cấp phép, chấp thuận hoặc từ chối vẫn phải do cơ quan nhà nước thực hiện.

Về địa bàn, TP.HCM có thể chọn vài phường, xã hoặc trung tâm hành chính công có lượng hồ sơ cao để thí điểm trong 6-12 tháng. Sau đó cơ quan chức năng đánh giá bằng các chỉ số cụ thể như thời gian xử lý, tỉ lệ hồ sơ phải bổ sung giảm bao nhiêu, mức độ hài lòng tăng thế nào, có phát sinh khiếu nại, chi phí của người dân có minh bạch... Nếu kết quả tốt mới nhân rộng. Làm như vậy sẽ giữ được tinh thần đổi mới của Nghị quyết 09, tránh nóng vội trong một lĩnh vực nhạy cảm.

de-xuat-co-chinh-sach-ho-tro-di-lai-cho-can-bo-khi-lam-viec-o-trung-tam-hanh-chinh-moi.jpg

Công khai dữ liệu vận hành, giảm nguy cơ “sân sau”

. Làm sao bảo đảm công khai, minh bạch và sự giám sát của người dân, DN khi thực hiện điều này?

+ Trước hết, người dân cần được biết rõ thủ tục nào được xã hội hóa, khâu nào tổ chức bên ngoài được tham gia, khâu nào bắt buộc do cơ quan nhà nước thực hiện, mức phí, thời gian cam kết cũng như trách nhiệm của từng bên.

Quan trọng nhất là bảo đảm quyền lựa chọn. Người dân, DN có quyền nộp hồ sơ trực tiếp hoặc trực tuyến mà không phải sử dụng dịch vụ. Tổ chức tư vấn chỉ là phương án hỗ trợ tự nguyện, nhất là với những hồ sơ phức tạp, người lớn tuổi hoặc DN cần chuẩn hóa hồ sơ nhanh.

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã đặt ra các yêu cầu về công khai, minh bạch, thuận lợi cho người dân và DN, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, không hình thành độc quyền dịch vụ, bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Đồng thời giao HĐND TP, UBND TP quy định cụ thể và giao thực hiện.

Về giám sát xã hội, TP.HCM có thể công khai bảng xếp hạng các tổ chức tham gia dựa trên tỉ lệ hồ sơ hợp lệ ngay từ đầu, thời gian hỗ trợ, mức độ hài lòng, số phản ánh, số lần vi phạm. Người dân, DN sau khi sử dụng dịch vụ phải có quyền đánh giá. Các hiệp hội DN, MTTQ, HĐND, báo chí và các tổ chức nghề nghiệp cần được tham gia giám sát độc lập. Khi mọi dữ liệu vận hành được công khai ở mức phù hợp, nguy cơ “sân sau” sẽ giảm đi rất nhiều.

. Xin cảm ơn ông.

Bảo mật dữ liệu để tránh lộ, lọt thông tin

Trong quá trình thực hiện xã hội hóa, bảo mật dữ liệu phải được xem là điều kiện tiên quyết. Bởi hồ sơ hành chính chứa rất nhiều thông tin nhạy cảm như căn cước, địa chỉ, tài sản, đất đai, giấy phép kinh doanh, thông tin thuế... Nếu để lộ, lọt, thiệt hại không chỉ thuộc về người dân mà còn ảnh hưởng đến niềm tin với chính quyền số.

TP.HCM nên áp dụng nguyên tắc “tiếp cận tối thiểu”, tổ chức tham gia chỉ được tiếp cận phần dữ liệu cần thiết cho công việc được giao, trong thời gian và vì mục đích cụ thể. Các tổ chức dịch vụ cần được thao tác trên nền tảng số dùng chung do Nhà nước kiểm soát. Bên cạnh đó, hợp đồng hoặc thỏa thuận tham gia phải có điều khoản chặt chẽ về trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, nghĩa vụ xóa dữ liệu sau khi hoàn thành, trách nhiệm bồi thường khi xảy ra lộ, lọt và chế tài khi vi phạm.

Ngoài ra, cần phân quyền truy cập theo từng vai trò công việc. Chẳng hạn, nhân sự hỗ trợ kê khai chỉ được xem phần biểu mẫu cần thiết. Nhân sự số hóa chỉ được xử lý tài liệu đầu vào… Xã hội hóa chỉ có thể thành công nếu người dân tin rằng hồ sơ của mình được xử lý nhanh hơn nhưng vẫn an toàn hơn.

ThS NGUYỄN TUẤN ANH, Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn

*****

Ý KIẾN:

GS-TS NGÔ PHƯƠNG LAN, Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia TP.HCM:

Năm hàng rào an toàn

Dự thảo đề xuất xã hội hóa một số khâu giải quyết TTHC, cho phép xã hội hóa có kiểm soát trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, tư pháp, y tế, giáo dục, PCCC. Điều này liên quan trực tiếp đến quyền tài sản, dữ liệu cá nhân của người dân nhưng dự thảo chưa có hàng rào đủ chặt về xung đột lợi ích và bảo vệ dữ liệu.

Do vậy, tôi cho rằng cần cân nhắc bổ sung năm hàng rào an toàn bắt buộc. Thứ nhất, cần phân định rõ khâu được và không được xã hội hóa. Quyền thẩm định cuối cùng, ký duyệt, cấp phép phải thuộc cơ quan nhà nước.

Thứ hai, cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích. Theo đó, đơn vị hỗ trợ không được đồng thời tư vấn, lập hồ sơ cho chính người nộp hồ sơ.

Thứ ba, trách nhiệm pháp lý rõ ràng khi để lộ, mất hoặc sử dụng sai mục đích dữ liệu. Thứ tư là ghi vết số toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ để truy xuất trách nhiệm. Cuối cùng là có cơ chế khiếu nại độc lập cho người dân và DN.

-----

Ông NGUYỄN NGỌC HÒA, Chủ tịch Hiệp hội DN TP.HCM (HUBA):

Áp dụng các nền tảng công nghệ số do DN công nghệ trong nước phát triển

Chúng tôi kiến nghị cần ưu tiên áp dụng các nền tảng công nghệ số do DN công nghệ trong nước phát triển, đồng thời nghiên cứu cơ chế miễn, giảm phí dịch vụ hành chính công thực hiện thông qua xã hội hóa đối với DN nhỏ và vừa, DN khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong ba năm đầu hoạt động. Những điều này nhằm hỗ trợ DN phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài cho ngân sách.

Đối với cơ chế phân cấp, phân quyền cho TP.HCM trong đầu tư, môi trường, hạ tầng và logistics…, hiệp hội kiến nghị đẩy mạnh cải cách TTHC theo hướng số hóa, liên thông dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tăng tính công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết thủ tục và lựa chọn nhà đầu tư.

-----

PGS-TS TRẦN THỊ KIM OANH, Viện phó Viện Công nghệ tài chính - ngân hàng, Trường ĐH Tài chính - Marketing:

Bổ sung các nguyên tắc kiểm soát bắt buộc

Việc đề xuất xã hội hóa có kiểm soát ở một số khâu như dự thảo có thể giúp giảm tải cho bộ máy, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, DN. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến dữ liệu cá nhân, dữ liệu DN, quyền tiếp cận dịch vụ công và nguy cơ phát sinh chi phí không chính thức.

Để chặt chẽ hơn, theo tôi, TP cần bổ sung các nguyên tắc kiểm soát bắt buộc. Cụ thể, không chuyển giao thẩm quyền quản lý nhà nước; không làm phát sinh thêm chi phí bắt buộc cho người dân, DN; bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh. Đồng thời, công khai tiêu chuẩn lựa chọn đơn vị cung ứng dịch vụ; phòng ngừa độc quyền dịch vụ; có cơ chế phản ánh, khiếu nại và xử lý vi phạm.

TP.HCM cũng nên quy định rõ các khâu được xã hội hóa chỉ là khâu hỗ trợ kỹ thuật, dữ liệu, số hóa, hướng dẫn, rà soát ban đầu, còn quyền quyết định hành chính, thẩm định cuối cùng và trách nhiệm pháp lý phải thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

(Các ý kiến ghi tại các buổi góp ý do UBND TP.HCM và Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM tổ chức)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm