Số hóa di sản - Bài cuối: Giải pháp để số hóa 100% di sản theo Nghị quyết 80

(PLO)- Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Lê Thị Thu Hiền cho rằng các mục tiêu mà Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam và các văn bản liên quan đề ra về công tác số hóa di sản là hoàn toàn khả thi.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang lan tỏa mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, di sản văn hóa, vốn được xem là ký ức và bản sắc của dân tộc, đang được tiếp cận bằng một phương thức hoàn toàn mới.

Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Lê Thị Thu Hiền, cho rằng số hóa không chỉ là xu hướng mà là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài để gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.

Đến năm 2030, số hóa 100% di sản

. Phóng viên: Nghị quyết 80 đề ra mục tiêu phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Chính phủ cũng đã có quyết định triển khai chương trình số hóa di sản giai đoạn 2021-2030, mục tiêu 100% di sản được số hóa và ứng dụng trên nền tảng số. Theo bà, mục tiêu này có khả thi không?

+ Bà Lê Thị Thu Hiền: Với định hướng của Đảng, Nhà nước qua các nghị quyết và chương trình mục tiêu quốc gia, cùng cơ sở pháp lý vững chắc và hạ tầng công nghệ, tôi cho rằng các nhiệm vụ, mục tiêu này hoàn toàn khả thi nếu triển khai đồng bộ, bài bản, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành. Đây cũng là mục tiêu trong chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số: “Mỗi di sản Việt Nam đều có hiện diện số và hình thành bản di sản số để người dân, khách du lịch truy cập thuận lợi”, vừa thể hiện quyết tâm chính trị, vừa tiệm cận xu hướng quốc tế.

. Xin bà cho biết bức tranh chung về di sản ở nước ta hiện nay như thế nào, từ số lượng tới những thách thức đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy giá trị?

+ Di sản văn hóa là bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, đồng thời là nguồn lực nội sinh thiết yếu cho phát triển bền vững đất nước, góp phần khẳng định bản sắc, nâng cao vị thế và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời gian qua, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Hệ thống chính sách, pháp luật về di sản văn hóa đã và đang được hoàn thiện, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Cùng với đó, hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa đang được đẩy mạnh với nhiều hình thức, bước đầu đạt kết quả khả quan, tiệm cận với xu hướng quốc tế. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về di sản cũng được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Thách thức giữa bảo tồn và phát triển

. Theo bà, đâu là vấn đề khó khăn, phức tạp nhất mà công tác quản lý di sản đang phải đối mặt?

+ Từ góc độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực di sản văn hóa, trong thời kỳ chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và toàn cầu hóa văn hóa, thách thức lớn nhất mà công tác bảo tồn di sản văn hóa hiện nay phải đối mặt chính là bài toán cân bằng giữa bảo tồn và yêu cầu phát triển bền vững.

Một mặt, chúng ta phải bảo tồn, bảo vệ di sản văn hóa, bảo đảm tính nguyên gốc, tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản văn hóa; mặt khác, xã hội đặt ra yêu cầu khai thác, phát huy giá trị để phục vụ đời sống đương đại, gắn với phát triển du lịch, kinh tế - xã hội bền vững. Bài toán cân bằng hài hòa hai yếu tố này luôn là nhiệm vụ đòi hỏi sự thống nhất từ nhận thức đến hành động, sự vào cuộc đồng bộ của các ngành, các cấp và đặc biệt là sự chung tay của cộng đồng.

Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho chuyển đổi số di sản văn hóa còn hạn chế: Ngân sách chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, nhân lực chuyên môn chưa đủ về số lượng và chất lượng, công tác quản lý ở một số địa phương còn thiếu đồng bộ; thiếu hành lang pháp lý cho quy trình vận hành, quản lý, tổ chức số hóa di sản văn hóa, quyền sở hữu liên quan đến di sản số... Những vấn đề này khiến cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh mới càng trở nên khó khăn và phức tạp.

Ngoài ra, tác động của toàn cầu hóa và đô thị hóa nhanh chóng cũng đặt ra nguy cơ làm biến đổi, mai một những giá trị di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng như các thực hành văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội, tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống...

Không gian trưng bày 3D triều Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý, Trần của Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Việt Nam. Ảnh: VIẾT THỊNH

Số hóa di sản văn hóa là tất yếu

. Hiện nay, xu hướng số hóa di sản đang được nhiều đơn vị, địa phương áp dụng. Theo bà, việc số hóa này đem lại những lợi ích tích cực nào?

+ Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, có thể khẳng định rằng số hóa đã và đang trở thành một công cụ quan trọng, hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Thực tiễn càng cho thấy tính cấp thiết của quá trình này khi di sản văn hóa đang đứng trước những nguy cơ và thách thức hiện hữu và công tác bảo vệ, phát huy và quảng bá giá trị di sản văn hóa cũng gặp không ít trở ngại.

Số hóa giúp lưu giữ, bảo quản lâu dài những thông tin của di sản văn hóa, đặc biệt là các loại hình dễ bị tổn thương hoặc đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một. Thông qua việc ứng dụng số hóa, chúng ta có thể sao lưu, phục dựng, phục hồi, tái hiện di sản văn hóa trên môi trường số, hình thành bản số của di sản văn hóa.

Số hóa hình thành cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa phong phú, tăng khả năng tiếp cận rộng rãi và trải nghiệm đối với đông đảo công chúng trên các nền tảng tương tác và ứng dụng số, phục vụ cho nhiều mục tiêu và mục đích khác nhau bên cạnh mục tiêu cốt lõi là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa như nghiên cứu, học tập, giáo dục... từ đó tăng cường nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia tích cực của đông đảo công chúng vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, dữ liệu số về di sản văn hóa trở thành nguồn lực quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần quảng bá giá trị di sản văn hóa trong nước và quốc tế.

Tham quan thực tế ảo về di sản, công chúng tiếp cận được nhiều thông tin trực quan, cụ thể hơn. Ảnh: VIẾT THỊNH

. Ở góc độ quản lý nhà nước, theo bà số hóa di sản cần chú trọng điều gì khi triển khai?

+ Từ góc độ quản lý nhà nước về di sản văn hóa, cũng như với vai trò là đơn vị đầu mối của Bộ VH-TT&DL trong triển khai số hóa di sản văn hóa, trước hết cần tập trung vào việc chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu số.

Điều này đòi hỏi phải xây dựng và ban hành hệ thống quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật chung, bảo đảm thống nhất về quy trình thực hiện, về định dạng dữ liệu, phương thức cập nhật và cơ chế truy xuất, sử dụng, khai thác; đồng thời thiết lập hệ thống liên thông dữ liệu giữa trung ương và địa phương, giữa các lĩnh vực chuyên ngành, hướng tới tích hợp vào nền tảng dữ liệu số quốc gia.

Đây là cơ sở quan trọng để cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức có thể cùng tiếp cận, khai thác dựa trên dữ liệu di sản văn hóa, đáp ứng các quy định theo pháp luật về di sản văn hóa và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm dữ liệu đạt tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Song song với đó, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo cơ chế, chính sách vững chắc cho số hóa di sản văn hóa, nhất là về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và các quyền liên quan đối với sản phẩm số; cơ chế khai thác, sử dụng di sản văn hóa trên môi trường điện tử, cũng như khung pháp lý rõ ràng, ổn định để thúc đẩy hợp tác công - tư trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, phải có cơ chế phân bổ ngân sách và huy động nguồn lực minh bạch, hiệu quả, bao gồm tài chính, nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật, nhằm bảo đảm tính khả thi, tính liên tục cho các nhiệm vụ chuyển đổi số di sản văn hóa.

Để các nhiệm vụ trên được triển khai đồng bộ và hiệu quả, vai trò của Nhà nước là then chốt trong chỉ đạo, định hướng và điều phối, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ sinh thái di sản văn hóa số toàn diện, phục vụ phát triển bền vững.

. Xin cảm ơn bà.

Đẩy mạnh số hóa di sản

Nghị định 308/2025 (có hiệu lực từ ngày 15-1-2026) quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Di sản văn hóa đã dành một chương quan trọng để quy định rõ về chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa.

Nghị định 308/2025 được kỳ vọng sẽ giúp di sản Việt Nam phát huy giá trị trong bối cảnh mới. Điểm mới nổi bật của Nghị định 308/2025 là đẩy mạnh số hóa di sản, thích ứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn mới.

Nghị định nhấn mạnh nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình chuyển đổi số là không gây tổn hại đến tính nguyên gốc, tính toàn vẹn của di sản văn hóa và bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu, đơn vị quản lý. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ số hóa phải đáp ứng yêu cầu về lưu trữ, liên thông, an toàn và bảo mật.

Số hóa di sản cần tránh rủi ro pháp lý

Số hóa di sản mở ra cơ hội bảo tồn chưa từng có nhưng cần có khung pháp lý chặt chẽ hơn.

Công nghệ số đang tạo ra cơ hội chưa từng có trong việc lưu giữ và chia sẻ di sản văn hóa. Tuy nhiên, cần có các quy định của pháp luật chặt chẽ hơn để vừa quảng bá được di sản số, vừa tránh nguy cơ thất lạc, sai lệch hoặc bị thương mại hóa ngoài tầm kiểm soát.

Tránh tình trạng mỗi nơi một kiểu

Số hóa di sản không chỉ là kỹ thuật mà còn là phương thức bảo tồn mới. Khi một văn bản cổ, hiện vật hay công trình kiến trúc được quét, ghi chép và lưu trên nền tảng số, nó bước vào “trạng thái tồn tại thứ hai” là không gian dữ liệu số. Giá trị di sản lúc này nằm trong các tệp tin có thể sao chép, chia sẻ và chỉnh sửa.

Điều này giúp di sản vượt giới hạn địa lý và thời gian, tiếp cận nhiều người hơn. Tuy nhiên, nguy cơ đánh mất tính xác thực cũng hiện hữu. Mô hình 3D nếu thiếu thông tin nguồn, có thể khiến người xem hiểu sai về niên đại hoặc cấu trúc. Văn bản Hán Nôm chụp lên mạng mà không đối chiếu chuẩn có thể dẫn đến sai lệch trích dẫn, nghiên cứu.

Nhiều dự án hiện nay chú trọng “làm đẹp” mô phỏng sinh động nhưng thiếu cơ sở học thuật và quy trình kiểm duyệt khiến di sản số dễ biến thành sản phẩm minh họa, mất giá trị nghiên cứu và lưu trữ.

Di sản văn hóa vốn thuộc cộng đồng hoặc Nhà nước quản lý nhưng dữ liệu số lại nằm trong tay đơn vị thực hiện: Viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ hay nhóm cá nhân.

Công chúng tham quan, đặc biệt là giới trẻ, rất thích thú với các sản phẩm ứng dụng công nghệ tại di tích. Ảnh: VIẾT THỊNH

Ai sở hữu dữ liệu, ai được khai thác, ai chịu trách nhiệm bảo mật? Nếu doanh nghiệp được thuê số hóa di sản lưu dữ liệu trên máy chủ riêng, quyền lưu trữ và công bố khi hợp đồng kết thúc thuộc về ai? Nếu đơn vị tự ý sử dụng sản phẩm số vào mục đích thương mại, cơ quan quản lý có căn cứ pháp lý can thiệp không?

Hiện nay, Luật Di sản văn hóa (có hiệu lực từ ngày 1-7-2025) chỉ có thuật ngữ “số hóa di sản”, chưa định nghĩa “di sản số”. Các quy định về bản quyền và sở hữu trí tuệ mới áp dụng cho tác phẩm, sáng chế, phần mềm, chưa tính đến dữ liệu hình ảnh, mô hình, bản quét di sản, bản phỏng dựng hay phục chế số.

Đây là nguy cơ “mất di sản lần hai”: Di sản được bảo tồn dạng số nhưng có thể bị thất lạc, xóa bỏ hoặc chiếm hữu hoặc sản phẩm số Nhà nước đầu tư không có cơ chế công bố online cho cộng đồng sử dụng.

PGS-TS Trần Trọng Dương (Trường Ngoại ngữ - Du lịch, ĐH Công nghiệp Hà Nội) từng dành 10 năm nghiên cứu các di sản kiến trúc - mỹ thuật thời Lý. Tháng 10-2020, ông cùng Sen Heritage đã công bố bản số hóa kiến trúc Một Cột - chùa Diên Hựu bằng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường và trải nghiệm tương tác nhập vai. Năm 2021, sản phẩm phỏng dựng Tu Di tòa Thích Ca Sơ Sinh của nhóm cũng đã được đưa vào ứng dụng trong nghi lễ tắm Phật và Vesak thường niên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện ông và nhóm đang thực hiện dự án “Diện kiến Phật hoàng” số hóa bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ.

Ngoài ra, năng lực lưu trữ và quản lý dữ liệu di sản ở Việt Nam hiện đang rời rạc. Mỗi đơn vị, địa phương, bảo tàng triển khai riêng, định dạng khác nhau, thiếu kết nối và chia sẻ. Chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, đảm bảo dữ liệu lưu trữ an toàn và truy cập lâu dài.

Di sản số phải là tài sản công, được quản lý như kho lưu trữ quốc gia. Dữ liệu số hóa cần bàn giao, đăng ký và lưu tại hệ thống tập trung do cơ quan văn hóa chủ trì. Chỉ khi đó bảo tồn mới bền vững, tránh tình trạng mỗi nơi một kiểu, dự án kết thúc dữ liệu bị xóa hoặc không truy cập được.

Cần liên thông và an ninh dữ liệu

Theo tôi, cần có chiến lược quốc gia về di sản số, quy định rõ vai trò cơ quan quản lý, cơ chế hợp tác công - tư, nguyên tắc sử dụng dữ liệu, liên thông dữ liệu, an ninh dữ liệu. Mọi sản phẩm số hóa, dù do ai thực hiện, phải có cơ chế bàn giao, đăng ký lưu trữ, tránh dữ liệu rơi vào “vùng xám”.

Số hóa không chỉ là bảo tồn mà còn định hình ký ức tập thể. Nếu không có hành lang pháp lý vững chắc, di sản số sẽ trở thành mảnh đất hỗn tạp, ký ức văn hóa phân tán, thương mại hóa hoặc thất lạc.

Số hóa di sản là xu hướng tất yếu nhưng phải nhìn nhận với tinh thần học thuật và trách nhiệm văn hóa. Mỗi bản quét, tệp dữ liệu chứa giá trị lịch sử và tri thức. Quản lý đúng cách, đó là kho báu tri thức vô tận; thiếu chuẩn mực và bảo vệ, đó sẽ là ảo ảnh, ký ức bị đánh mất lần nữa.

PGS-TS Trần Trọng Dương

VIẾT THỊNH ghi

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới