Tiếp tục thu hẹp tội danh áp dụng hình phạt tử hình: Xu hướng văn minh, tiến bộ

(PLO)- Các chuyên gia cho rằng việc tiếp tục thu hẹp các tội danh áp dụng hình phạt tử hình là phù hợp với xu hướng lập pháp văn minh, tiến bộ, đồng thời cần hoàn thiện quy định về hình phạt thay thế.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Bộ Công an đang lấy ý kiến cho dự thảo hồ sơ chính sách dự án BLHS (sửa đổi), với nhiều nội dung mới được dư luận quan tâm, trong đó có đề xuất tiếp tục thu hẹp các tội danh áp dụng hình phạt tử hình. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) đã thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, từ 18 tội danh xuống còn 10 tội danh.

Báo Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu ý kiến của các chuyên gia về vấn đề này.

p6-anh-1-bai-dd.jpg
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, từ 18 tội danh còn 10 tội danh. Ảnh minh họa: QUỐC HỘI

Thạc sĩ NGUYỄN THỊ THÙY DUNG, Khoa Luật Hình sự Trường ĐH Luật TP.HCM:

Tránh khoảng trống và xung đột pháp luật

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) đã từng bước loại bỏ hình phạt tử hình đối với nhiều tội danh, nhất là các tội không trực tiếp xâm phạm tính mạng con người.

Tuy nhiên, cách tiếp cận hiện nay không phải là bãi bỏ hoàn toàn, mà là thu hẹp có chọn lọc. Hình phạt tử hình vẫn được duy trì đối với các tội ác nghiêm trọng, xâm phạm khách thể đặc biệt quan trọng, gây hậu quả đặc biệt lớn đối với xã hội.

anh-tem-1-thuy-dung.jpg
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy Dung

Điều này cho thấy hình phạt tử hình vẫn được nhìn nhận như một công cụ phòng ngừa đặc biệt, áp dụng trong những trường hợp thật sự ngoại lệ. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc bãi bỏ hay duy trì, mà là xác định phạm vi áp dụng trên cơ sở các tiêu chí pháp lý rõ ràng, đảm bảo tính tiên liệu và hạn chế tối đa khả năng áp dụng tùy nghi. Từ đó, đặt ra yêu cầu phải thiết lập các tiêu chí cụ thể về mức độ thiệt hại, hậu quả, mức độ lỗi, động cơ và phương thức thực hiện hành vi để làm căn cứ áp dụng hình phạt tử hình.

Thực tiễn thi hành pháp luật hình sự cho thấy nhiều quy định hiện hành còn mang tính định tính, dẫn đến khó khăn trong áp dụng và tiềm ẩn nguy cơ tùy nghi.

Các khái niệm như hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cần được chuẩn hóa theo hướng lượng hóa thông qua các chỉ số cụ thể như thiệt hại về tính mạng, quy mô tài sản, mức độ ảnh hưởng xã hội, đồng thời kết hợp với các yếu tố định tính có tính phân hóa như lỗi cố ý trực tiếp, tính chất côn đồ, phạm tội có tổ chức hoặc tái phạm nguy hiểm… Chỉ khi được thiết kế với độ chính xác cao ở cấp độ quy phạm, các tiêu chí này mới đảm bảo nguyên tắc pháp chế và tính thống nhất trong áp dụng.

Việc tiếp tục thu hẹp hình phạt tử hình, nếu không được thiết kế đồng bộ, có thể làm phát sinh khoảng trống hoặc chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Khi loại bỏ hình phạt tử hình khỏi một tội danh, yêu cầu đặt ra không chỉ là thay thế về mặt hình thức, mà phải xây dựng chế tài tương xứng về bản chất.

Nếu chỉ chuyển sang hình phạt tù chung thân một cách cơ học, không kèm theo các cơ chế kiểm soát như hạn chế giảm án hoặc điều kiện chặt chẽ thì có thể làm suy giảm hiệu quả răn đe đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời gia tăng áp lực đối với hệ thống thi hành án hình sự.

Hình phạt tử hình không chỉ là vấn đề của luật nội dung mà còn gắn chặt với các đảm bảo tố tụng. Mọi điều chỉnh liên quan cần được rà soát trong mối tương thích với BLTTHS năm 2015, đặc biệt ở các nội dung như tiêu chuẩn chứng minh, nguyên tắc suy đoán vô tội, cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm và đảm bảo quyền bào chữa. Nếu không đảm bảo tính đồng bộ, dễ dẫn đến sự lệch pha giữa luật nội dung và luật tố tụng, làm giảm hiệu lực, hiệu quả áp dụng pháp luật và gia tăng rủi ro oan, sai.

Từ góc độ hoàn thiện chính sách, việc sửa đổi các quy định về hình phạt tử hình cần được định hướng theo ba trục chính. Trước hết là xác định chặt chẽ phạm vi tội ác nghiêm trọng nhất theo đúng tinh thần của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), chỉ giới hạn ở các hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng con người hoặc đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia với hậu quả đặc biệt lớn, đồng thời loại bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm thuần túy kinh tế có khả năng khắc phục bằng biện pháp tài sản.

Tiếp theo là thiết kế các chế tài thay thế có tính răn đe thực chất, trong đó cần nghiên cứu hình phạt tù chung thân theo hướng hạn chế xét giảm án đối với những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, gắn với nghĩa vụ bồi thường và khắc phục hậu quả.

Cuối cùng là tăng cường các đảm bảo tố tụng, đặc biệt trong các vụ án có tội danh còn áp dụng hình phạt tử hình, như ghi âm, ghi hình hỏi cung, nâng cao vai trò của luật sư, siết chặt tiêu chuẩn chứng minh và mở rộng cơ chế xem xét lại bản án khi xuất hiện tình tiết mới, nhằm phòng ngừa oan, sai.

Thạc sĩ LÊ BÁ ĐỨC, Khoa Luật, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM:

Phải chọn đúng tội danh, đi đúng lộ trình

Lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2025 đã đánh dấu bước tiến quan trọng khi bãi bỏ hình phạt tử hình đối với tám tội danh, qua đó tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục nghiên cứu thu hẹp trong lần sửa đổi toàn diện BLHS sắp tới.

Trong bối cảnh hiện nay, với 10 tội danh vẫn còn áp dụng hình phạt tử hình, việc tiếp tục thu hẹp cần có sự cân nhắc thận trọng, dựa trên cả cơ sở lý luận và thực tiễn. Đặc biệt nhóm tội phạm về ma túy, cụ thể là tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), là nhóm cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.

tem-2-ba-duc-.jpg
Thạc sĩ Lê Bá Đức

Theo chuẩn mực của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), tội ác nghiêm trọng nhất được hiểu là các hành vi có yếu tố cố ý tước đoạt tính mạng con người, trong khi tội phạm ma túy về bản chất không thuộc nhóm này. Thực tiễn lập pháp quốc tế cũng cho thấy xu hướng loại dần các tội phạm về ma túy ra khỏi phạm vi áp dụng hình phạt tử hình.

Ngược lại, việc duy trì hình phạt tử hình vẫn cần thiết đối với một số tội danh đặc biệt nghiêm trọng, như các tội xâm phạm an ninh quốc gia (các điều 108, 112, 113), tội giết người (Điều 123) và các tội phạm chiến tranh, chống loài người (các điều 422, 423).

Đây là những tội xâm phạm trực tiếp đến các khách thể đặc biệt quan trọng, không thể khắc phục và có mức độ nguy hiểm đặc biệt lớn đối với xã hội, do đó khó có thể thay thế bằng chế tài khác mà vẫn đảm bảo đầy đủ chức năng bảo vệ của pháp luật hình sự.

Việc tiếp tục thu hẹp các tội danh áp dụng hình phạt tử hình phải có lộ trình, được thực hiện theo từng bước, có trọng tâm. Trong lần sửa đổi BLHS tới đây, có thể xem xét trước đối với nhóm tội phạm về ma túy - lĩnh vực có cơ sở lý luận rõ ràng và chịu tác động từ các cơ chế nhân quyền quốc tế.

Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế chuyển đổi từ hình phạt tử hình sang tù chung thân theo hướng sửa đổi các quy định liên quan, đảm bảo tính khả thi khi áp dụng. Sau một thời gian thực thi, trên cơ sở tổng kết thực tiễn với các số liệu cụ thể về hiệu quả phòng ngừa và thi hành án, mới tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi thu hẹp trong giai đoạn tiếp theo.

Cùng với đó, yêu cầu rà soát để tránh chồng chéo, bất cập pháp lý là vấn đề mang tính then chốt. Mỗi khi bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một tội danh, cần đồng thời điều chỉnh các khung hình phạt thay thế, đảm bảo duy trì tính nghiêm khắc cần thiết của chế tài, tránh tạo ra khoảng trống pháp lý.

Đồng thời, cần rà soát sự tương thích với BLTTHS về trình tự, thủ tục, với Luật Thi hành án hình sự về chế độ giam giữ, cũng như với các điều ước quốc tế song phương về dẫn độ tội phạm, nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật trong quá trình áp dụng.

Thạc sĩ ĐẶNG TRẦN KHA, Khoa Luật, Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM:

Phù hợp với xu hướng lập pháp tiến bộ

Đề xuất tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là phù hợp nhưng cần triển khai thận trọng và có lộ trình rõ ràng.

Điều 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) đã quy định rõ: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do bộ luật này quy định”. Như vậy, ngay trong thiết kế của điều luật, hình phạt tử hình đã mang tính ngoại lệ, không phải chế tài phổ biến.

tem3-tran-kha-.jpg
Thạc sĩ Đặng Trần Kha

Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên nêu rõ: Tại các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, hình phạt này chỉ được áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng nhất.

Do đó, việc tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là phù hợp với xu hướng lập pháp tiến bộ, đồng thời thể hiện chính sách hình sự nhân đạo, tạo cơ hội cho người phạm tội cải tạo và tái hòa nhập xã hội.

Tuy nhiên, để thực hiện được cần đảm bảo một số điều kiện. Trước hết là hệ thống pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng phân hóa rõ trách nhiệm hình sự và thiết kế các chế tài thay thế đủ mạnh.

Quy định về tù chung thân tại Điều 39 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) có thể được nghiên cứu theo hướng tăng mức độ nghiêm khắc trong những trường hợp đặc biệt, nhằm đảm bảo yêu cầu cách ly lâu dài người phạm tội ra khỏi xã hội khi không còn áp dụng hình phạt tử hình.

Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả của các biện pháp như tịch thu tài sản, buộc bồi thường thiệt hại để tăng cường tính răn đe, nhất là đối với tội phạm kinh tế.

Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử cần tiếp tục được nâng cao, đảm bảo nguyên tắc đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi niềm tin vào hệ thống tư pháp được củng cố, việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình sẽ có tính khả thi cao hơn và nhận được sự đồng thuận xã hội.

Về phạm vi, vẫn cần duy trì hình phạt tử hình đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng con người hoặc an ninh quốc gia. Ngược lại, đối với các tội trong lĩnh vực kinh tế, chức vụ, có thể cân nhắc loại bỏ hình phạt tử hình và thay thế bằng hình phạt tù chung thân gắn với nghĩa vụ bồi thường, thu hồi tài sản.

Nhìn chung, thu hẹp hình phạt tử hình là xu hướng phù hợp nhưng cần được thực hiện từng bước, trên cơ sở đánh giá đầy đủ về pháp lý, thực tiễn và xã hội, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa tính nhân đạo và yêu cầu phòng, chống tội phạm.

Hơn 100 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình

Hiện có hơn 100 quốc gia đã xóa bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình và con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Liên minh châu Âu (EU) là một ví dụ điển hình khi tất cả quốc gia thành viên đều đã xóa bỏ hình phạt tử hình nhằm đảm bảo phù hợp với Hiến chương về các quyền căn bản của Liên minh châu Âu và Công ước châu Âu về nhân quyền.

anh-tieu-diem-huu-nghia.jpg
Luật sư Lê Hữu Nghĩa

Một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Philippines, Timor-Leste… cũng không còn duy trì hình phạt tử hình. Điều này cho thấy việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là xu hướng chung và Việt Nam cũng đang từng bước tiếp cận theo hướng này.

Ở góc độ cam kết quốc tế, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người. Việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình góp phần đảm bảo thực thi đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế đã tham gia, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn trong hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong hoạt động tương trợ tư pháp đối với các loại tội phạm xuyên quốc gia.

Luật sư LÊ HỮU NGHĨA, Đoàn Luật sư TP.HCM

PGS-TS-Luật sư BÙI KIM HIẾU, Trưởng Khoa Khoa học xã hội và Ngôn ngữ quốc tế, Trường ĐH Gia Định:

Quy định đồng bộ, điều chỉnh các bộ luật, luật tương ứng

Việc đánh giá các tiêu chí như tội ác nghiêm trọng hay xâm phạm khách thể đặc biệt quan trọng cần được đặt trong cả bối cảnh lập pháp và thực tiễn xét xử.

Các khái niệm này tuy đã có nền tảng trong khoa học luật hình sự nhưng vẫn chưa đạt đến độ cụ thể cần thiết trong văn bản quy phạm pháp luật.

tem-4-kim-hieu-dd.jpg
PGS-TS-LS Bùi Kim Hiếu

Với khách thể đặc biệt quan trọng, có thể nhận diện các nhóm cơ bản như tính mạng con người, an ninh quốc gia. Đối với tội ác nghiêm trọng, cần phân biệt với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng - khái niệm đã được xác định dựa trên khung hình phạt.

Tội ác nghiêm trọng nên được hiểu theo tính chất hành vi và hậu quả gây ra, như mức độ tàn bạo hoặc hậu quả không thể khắc phục. Tuy nhiên, các tiêu chí này hiện vẫn mang tính định tính, thiên về định hướng hơn là một thước đo kỹ thuật. Nếu không được cụ thể hóa thành các tiêu chí định lượng sẽ khó đảm bảo tính rõ ràng khi áp dụng.

Về tính khả thi, các tiêu chí này có thể vận hành trên thực tế nếu đi kèm các cơ chế đảm bảo áp dụng thống nhất. Trước hết là yêu cầu về sự đồng bộ của hệ thống hình phạt.

Khi loại bỏ hình phạt tử hình ở một số tội danh, các hình phạt thay thế như hình phạt tù chung thân không giảm án cần đủ nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe và đáp ứng yêu cầu công lý. Nếu không, hành vi xâm phạm khách thể đặc biệt quan trọng nhưng mức xử lý chưa tương xứng có thể gây phản ứng trong xã hội.

Khi thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, các quy định liên quan trong BLTTHS cần được điều chỉnh tương ứng. Tương tự, Luật Thi hành án hình sự cũng cần được rà soát, bởi khi thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, số lượng người chấp hành án tù chung thân sẽ tăng lên.

Việc này đòi hỏi phải điều chỉnh lại chế độ giam giữ, lao động cải tạo và quản lý phạm nhân trong thời gian dài. Đồng thời, các quy định trong Luật Đặc xá cũng cần được thiết kế chặt chẽ hơn, đảm bảo người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải chấp hành án trong thời gian đủ dài, đảm bảo hiệu quả răn đe.

Hoàn thiện quy định về hình phạt thay thế

Việc duy trì hình phạt tử hình trong một số giai đoạn trước đây là có cơ sở nhất định. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu bảo vệ quyền con người ngày càng được đề cao và hệ thống tư pháp từng bước hoàn thiện, việc tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là phù hợp cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Thực tiễn xét xử cho thấy hiệu quả răn đe của hình phạt tử hình không phải lúc nào cũng tương xứng với mức độ nghiêm khắc của nó. Nhiều hành vi phạm tội xảy ra trong trạng thái bột phát hoặc chịu tác động mạnh từ yếu tố tâm lý, hoàn cảnh nên người phạm tội hầu như không cân nhắc đầy đủ hậu quả pháp lý tại thời điểm thực hiện hành vi.

anh-box-ngoc-son-dd.jpg
Thạc sĩ - Luật sư Lý Ngọc Sơn

Đối với các tội phạm có tính toán như kinh tế hoặc tham nhũng, việc áp dụng hình phạt tử hình chưa chắc làm tăng hiệu quả phòng ngừa, thậm chí trong một số trường hợp còn làm giảm khả năng hợp tác của người phạm tội trong quá trình điều tra, xử lý vụ án.

Từ đó có thể thấy hình phạt tử hình chỉ nên được duy trì đối với những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khi hành vi phạm tội xâm phạm trực tiếp đến tính mạng con người hoặc gây nguy hại đặc biệt lớn cho an ninh quốc gia, trật tự xã hội như các hành vi khủng bố có tổ chức, giết người hàng loạt với tính chất đặc biệt tàn bạo hoặc phá hoại an ninh quốc gia ở mức độ nghiêm trọng.

Đối với các tội phạm về kinh tế, tham nhũng hoặc một số tội phạm về ma túy, việc thay thế bằng hình phạt tù chung thân không giảm án, kết hợp cơ chế thu hồi tài sản triệt để là hướng đi hợp lý, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa tăng khả năng khắc phục hậu quả.

Ở góc độ tố tụng, việc tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình không làm suy giảm hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, khi không còn đối mặt với nguy cơ bị tước đoạt tính mạng, bị can, bị cáo có xu hướng hợp tác tích cực hơn, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, nâng cao chất lượng chứng cứ và hạn chế rủi ro oan, sai.

Để hoàn thiện chính sách hình sự trong thời gian tới, cần tiếp tục xác định rõ tiêu chí áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chặt chẽ, minh bạch, đảm bảo áp dụng thống nhất. Đồng thời, cần hoàn thiện các hình phạt thay thế, đặc biệt là tù chung thân không giảm án, đi kèm cơ chế quản lý chặt chẽ, hiệu quả.

Nhìn tổng thể, việc thu hẹp hình phạt tử hình không phải là sự nới lỏng kỷ cương pháp luật, mà là sự điều chỉnh cần thiết trong tư duy lập pháp hiện đại, hướng tới sự cân bằng giữa tính nghiêm minh, hiệu quả phòng ngừa và giá trị nhân đạo trong pháp luật hình sự.

Thạc sĩ - Luật sư LÝ NGỌC SƠN, nguyên thẩm phán TAND TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũ

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm