Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành hai văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định vị vị trí công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, trong đó có Quy định 21 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Quy định 21 đã trao thêm thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong thi hành kỷ luật đảng viên. Văn bản quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy trong việc ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan công an, quân đội, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan liên quan.
Ngoài ra, quy định bổ sung nguyên tắc, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp, cho phép kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực như ngân hàng, thuế, đất đai, chứng khoán để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Cơ quan kiểm tra được áp dụng một số biện pháp như ghi âm, ghi hình, niêm phong tài liệu và đề nghị các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp theo quy định.
Chuyển vai trò từ "tham mưu" sang "phán quyết"
Các chuyên gia nhìn nhận Quy định 21 là bước đi mạnh theo hướng tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ việc tham nhũng chỉ được phát hiện sau thời gian dài, khi tài sản đã bị hợp thức hóa hoặc tẩu tán qua nhiều lớp trung gian. Nếu không trao công cụ mạnh ngay từ giai đoạn kiểm tra có dấu hiệu vi phạm thì cơ quan kiểm tra gần như đi sau hành vi vi phạm.
Về mở rộng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương, các chuyên gia đều cho rằng đây là bước đột phá về kiểm soát quyền lực, là sự chuyển dịch tư duy từ quản lý hành chính sang giám sát quyền lực một cách chuyên nghiệp, đưa Ủy ban Kiểm tra thành thiết chế kiểm soát quyền lực thực chất, sắc bén và có sức răn đe tối đa.
Theo TS Trần Thanh Thảo, Trường ĐH Luật TP.HCM, bước đột phá này thể hiện qua việc chuyển vai trò của Ủy ban Kiểm tra từ cơ quan “tham mưu, đề xuất” sang cơ quan “phán quyết”. Việc được trao thêm quyền kỷ luật cách chức cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (không là Ủy viên Trung ương), khẳng định vị thế độc lập, tách biệt giữa cơ quan kiểm tra và đối tượng bị kiểm tra.
Thứ hai, giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung vào nhân sự chiến lược cấp cao nhất. Phân định rõ “thẩm quyền tài phán” còn giúp quy trình kỷ luật vận hành tinh gọn, giảm bớt thủ tục trung gian, đảm bảo tính kịp thời và sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng.
Thứ ba, quy định mới giúp xóa bỏ rào cản cục bộ khi trao quyền cho Trung ương trực tiếp xử lý các chức danh chủ chốt tại địa phương, giúp vô hiệu hóa tình trạng nể nang, né tránh hoặc lợi ích nhóm tại cơ sở.
TS Nguyễn Thị Kim Vinh, nguyên thẩm phán TAND Tối cao, cho rằng việc mở rộng thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra Trung ương giúp rút ngắn quy trình, tránh tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” và tăng hiệu quả xử lý vi phạm. Tuy vậy, theo bà, khi quyền lực càng lớn thì yêu cầu về kiểm soát quyền lực càng cao. Nếu thiếu cơ chế giám sát nội bộ và minh bạch hóa quy trình thì nguy cơ lạm quyền hoặc áp dụng không thống nhất giữa các trường hợp sẽ có khả năng xảy ra.
“Cần thiết lập các chuẩn mực rõ ràng về căn cứ kỷ luật, quy trình xem xét, quyền giải trình của đối tượng bị kiểm tra…” - TS Kim Vinh nói.
ThS Nguyễn Đức Hiếu, Đại học Quốc tế, ĐHQG TP.HCM, cũng bày tỏ đồng tình việc quy định này sẽ góp phần phá vỡ các “khoảng trống trách nhiệm”. Mọi đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao hay đã nghỉ hưu, đều nằm trong phạm vi giám sát. Điều này tạo ra cơ chế xử lý mang tính bao quát hơn, trách nhiệm không còn gắn chặt với vị trí đương chức, mà trở thành nghĩa vụ xuyên suốt.
Quan trọng hơn, việc mở rộng thẩm quyền này thúc đẩy tính chủ động và độc lập tương đối của công tác kiểm tra, cho phép phát hiện và xử lý sai phạm sớm hơn, không bị phụ thuộc hoàn toàn vào các quy trình hành chính hay tố tụng. Nhờ đó, cơ chế kiểm tra dần trở thành một trụ cột trong kỷ luật đảng thay vì đóng vai trò “hậu kiểm”.
Xóa bỏ "điểm mù" tẩu tán tài sản
Liên quan đến việc cho phép Ủy ban Kiểm tra các cấp kết nối trực tiếp với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về ngân hàng, chứng khoán, đất đai và thuế, theo TS Trần Thanh Thảo, đây là bước tiến trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Thay vì chờ đợi quy trình hành chính rườm rà, việc cho phép này giúp cơ quan kiểm tra nhận diện ngay các dòng tiền bất thường hoặc những biến động quyền sử dụng đất ngay khi có dấu hiệu vi phạm.
Sự liên thông giữa dữ liệu hộ tịch và đăng ký tài sản còn giúp bóc tách mâu thuẫn giữa thu nhập thực tế và khối tài sản khổng lồ của thân nhân cán bộ, từ đó xác lập căn cứ pháp lý để phong tỏa, kê biên kịp thời.
“Theo tôi, đây là nền tảng quan trọng để thực hiện tương trợ tư pháp quốc tế. Bởi chỉ khi chứng minh được sự bất minh trong chuỗi giao dịch nội địa thông qua dữ liệu ngân hàng và thuế, chúng ta mới có thể thuyết phục các quốc gia khác phối hợp thu hồi tài sản tẩu tán ra nước ngoài” – TS Thảo đánh giá.
Trong khi đó, TS Nguyễn Thị Kim Vinh cho rằng trong bối cảnh tham nhũng ngày càng tinh vi, tài sản thường được “phân mảnh” qua nhiều kênh, đứng tên người thân hoặc chuyển ra nước ngoài, lúc này dữ liệu phân tán chính là “điểm mù” lớn nhất.
Khi được tích hợp, Ủy ban Kiểm tra có thể tái dựng dòng tiền, phát hiện giao dịch bất thường, đối chiếu giữa kê khai và thực tế, từ đó nâng cao khả năng truy vết và thu hồi tài sản.
Tuy nhiên, bà cũng nhấn mạnh hiệu quả sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố. Đầu tiên là mức độ liên thông và chuẩn hóa dữ liệu (tránh tình trạng “kết nối hình thức”). Thứ hai là cơ chế bảo mật và kiểm soát truy cập để không biến quyền này thành nguy cơ lộ lọt thông tin cá nhân.
Yếu tố thứ ba là hợp tác quốc tế, bởi tài sản khi đã được chuyển ra nước ngoài thì dữ liệu trong nước chỉ giải quyết được một phần.
“Việc mở rộng quyền truy cập cần song hành với khuôn khổ pháp lý về bảo vệ dữ liệu và các hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế” - nguyên thẩm phán TAND Tối cao nói thêm.
Từ giám sát chọn lọc sang giám sát toàn diện
Việc mở rộng phạm vi kiểm soát tài sản và thu nhập đến toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng được đánh giá là bước chuyển chiến lược từ quản trị chọn lọc sang giám sát toàn diện, thể hiện quyết tâm trong xây dựng hệ thống hành chính liêm chính.
TS Trần Thanh Thảo đánh giá quan điểm này phản ánh tư duy quản lý hiện đại rằng tham nhũng có thể phát sinh ở bất kỳ mắt xích nào trong bộ máy công quyền.
Quy định mới đã thiết lập cơ chế phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, ngăn chặn sự tha hóa ngay từ những bước đầu tiên của sự nghiệp chính trị. Việc minh bạch hóa tài sản trên diện rộng giúp giảm thiểu tình trạng bất đối xứng thông tin giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý, đồng thời tạo ra áp lực tâm lý buộc cá nhân phải tự điều chỉnh hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức công vụ.
Theo ông, khi kết hợp với kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, biện pháp này không chỉ đơn thuần là kê khai hình thức mà trở thành biện pháp kiểm chứng thực chất, giúp nhận diện các dòng thu nhập bất hợp pháp một cách khoa học.
Theo ThS Nguyễn Đức Hiếu, cách tiếp cận dựa trên diện quy hoạch tuy giúp tập trung nguồn lực vào nhóm có khả năng nắm giữ quyền lực cao trong tương lai (cán bộ diện quy hoạch) nhưng vô tình đã tạo ra “khoảng trống giám sát” khi những cá nhân ngoài diện này vẫn có thể phát sinh về tài sản, thu nhập mà không bị theo dõi chặt chẽ.
Quy định mới với mục tiêu “kiểm soát đúng, đủ” cho thấy nỗ lực khắc phục hạn chế này, giảm thiểu khả năng né tránh nghĩa vụ kê khai hoặc lợi dụng kẽ hở thể chế.
Nguyên thẩm phán TAND Tối cao - TS Nguyễn Thị Kim Vinh lưu ý tham nhũng không chỉ phát sinh ở “đỉnh quyền lực” mà còn ở các vị trí trung gian - nơi trực tiếp làm việc với người dân, doanh nghiệp. Việc kiểm soát toàn diện sẽ góp phần khắc phục tình trạng “chạy vào quy hoạch rồi mới kê khai”.
Tuy nhiên, theo bà, nếu triển khai đồng loạt mà thiếu phân loại rủi ro thì dễ dẫn đến hình thức, quá tải hành chính và khó xác minh thực chất. Chính vì vậy, cần thiết kế theo hướng quản trị rủi ro nhưng kiểm tra, xác minh có trọng tâm, trọng điểm dựa trên dấu hiệu bất thường (biến động tài sản lớn, giao dịch bất minh, phản ánh từ xã hội…).
Đồng thời, phải gắn kê khai với trách nhiệm giải trình và chế tài đủ mạnh đối với người kê khai không trung thực, nếu không hệ thống sẽ trở thành “kho lưu trữ giấy tờ” hơn là công cụ kiểm soát quyền lực.
Công cụ mạnh cần đi đôi với bảo vệ quyền con người
TS Trần Thanh Thảo, Trường ĐH Luật TP.HCM, nhìn nhận các biện pháp như ghi âm, ghi hình, phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản hay tạm hoãn xuất cảnh đều có khả năng hạn chế, ảnh hưởng đến quyền con người và quyền công dân.
Do đó, thời điểm hợp lý để áp dụng các biện pháp này là trong giai đoạn kiểm tra khi đã có dấu hiệu vi phạm rõ ràng, dựa trên tài liệu, chứng cứ đáng tin cậy. Đây cũng là giai đoạn dễ phát sinh nguy cơ tẩu tán tài sản, tiêu hủy chứng cứ hoặc bỏ trốn.
Cách tiếp cận này tương đồng với cách tiếp cận về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhằm bảo đảm nguyên tắc cần thiết và tương xứng, giúp cân bằng giữa hiệu quả kiểm tra và bảo vệ quyền hợp pháp của cá nhân.
Cùng quan điểm, TS Nguyễn Thị Kim Vinh đánh giá Quy định 21 thể hiện rõ xu hướng tăng cường công cụ để kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, những biện pháp nêu trên chỉ nên được kích hoạt tại giai đoạn “kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm” với ngưỡng chứng cứ nhất định, chẳng hạn có tài liệu, dữ liệu ban đầu chứng minh dấu hiệu bất minh rõ ràng hoặc có nguy cơ tẩu tán tài sản.
Bà Vinh cũng cho rằng cần thiết lập cơ chế phê duyệt mang tính “kiểm soát chéo”. Chẳng hạn như yêu cầu quyết định của tập thể Ủy ban Kiểm tra hoặc phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng trong những trường hợp nghiêm trọng nhằm tránh lạm quyền, đặc biệt phải có cơ chế “hậu kiểm”.
“Nếu kết luận cuối cùng xác định không có vi phạm thì cần có quy trình khôi phục quyền lợi, bồi thường thiệt hại (nếu có) và công khai xin lỗi để bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội” – theo TS Kim Vinh.
Quy trình ba trục
Quy định 21 là một bước đi mạnh theo hướng tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả thực chất, cần “thiết kế lại” quy trình theo ba trục.
Gồm xác định ngưỡng áp dụng biện pháp hạn chế quyền chặt chẽ; xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông an toàn và kiểm soát chính quyền lực của cơ quan kiểm tra bằng cơ chế minh bạch, giải trình và hậu kiểm.
Khi đó, mục tiêu kép vừa chống tham nhũng vừa bảo đảm quyền con người mới có thể đạt được một cách bền vững.
TS NGUYỄN THỊ KIM VINH, nguyên thẩm phán TAND Tối cao