Theo ông T. (Việt kiều Mỹ), sau khi quen biết một thời gian, ông đã cho bà Tr. mượn tiền để mua đất, xây nhà.
Mượn chứ không phải tặng cho
Bà Tr. cam kết sẽ trả lại cho ông số tiền đã mượn. Nghĩ rằng nơi thân tình, ông không lập giấy tờ gì. Tuy nhiên, do chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng nên ông có các giấy tờ liên quan cho thấy có việc giao nhận tiền giữa hai bên. Đồng thời sau khi mua nhà đất, bà đã đưa giấy tờ nhà đất cho ông giữ. Thời gian gần đây, ông đã đòi lại hơn 500 triệu đồng nhưng bà không đồng ý, buộc ông phải khởi kiện.
Dù tại tòa bà Tr. cho rằng số tiền trên là do ông T. tự nguyện cho bà vì hai bên có quan hệ thân thiết, không phải tiền vay nhưng Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã bác lập luận này. Tòa cho rằng bà Tr. không có chứng cứ gì chứng minh là ông T. tự nguyện cho bà. Mặt khác, qua các giao dịch tại ngân hàng, có đủ cơ sở xác định bà Tr. đã nhận tiền của ông T. Kèm các chứng cứ khác, thấy rõ ràng rằng bà Tr. đã mượn tiền của ông T. chứ không phải là cho tặng gì cả. Do vậy, tòa đồng tình với cấp sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của ông T. buộc bà Tr. phải trả lại tiền đã mượn cho… khổ chủ.

Không thể đòi lại tiền?
Quanh vụ kiện đã có hai quan điểm về cách đánh giá chứng cứ của tòa. Một quan điểm đồng tình với tòa, cho rằng tòa đã tuyên chính xác, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Quan điểm khác lại bảo tòa đánh giá chứng cứ chưa chuẩn, dẫn đến việc tuyên “oan” cho bà Tr.
Theo quan điểm này, khi khởi kiện, bản thân ông T. cũng không có chứng cứ trực tiếp như giấy cho vay tiền để chứng minh đã cho bà Tr. vay số tiền trên. Phía bà Tr. lại kịch liệt phản đối. Ông chỉ có chứng cứ gián tiếp là chuyển tiền cho bà Tr. qua ngân hàng và bà này đã ký nhận cùng với việc ông giữ giấy tờ nhà của bà. Tuy nhiên, những chứng cứ này cũng chưa thể nói đó là vay mượn tiền. Cũng có thể hiểu rằng hai người có tình cảm thân thiết nên bà Tr. được ông này cho tiền và bà nhờ ông giữ giùm giấy tờ nhà…
Mặt khác, không thể nại rằng bà Tr. không chứng minh được mình được tặng cho tiền nên quy ra là ông T. đã cho bà Tr. vay. Việc bà Tr. không chứng minh được tặng cho không quan trọng bằng việc ông T. phải chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình. Mà như đã phân tích ở trên, ông T. cũng không có chứng cứ chắc chắn về việc vay mượn này.
Thực tiễn xét xử cũng đã có tòa bác yêu cầu tương tự. Chẳng hạn, năm trước, một anh Việt kiều Anh đã khởi kiện ra TAND tỉnh Bến Tre để đòi lại tiền đã cho bạn gái ăn học, xây nhà. Khi tình cảm không còn, anh đòi lại.
Trước tòa, cô gái không phủ nhận việc nhận tiền nhưng cô cho rằng đó là tiền anh Việt kiều cho trên tinh thần tự giác, tự nguyện để nhằm lấy lòng cô chứ không vay mượn gì.
Tòa nhận định cô gái phủ nhận việc vay tiền. Anh Việt kiều khởi kiện đòi tiền cho mượn nhưng lại không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh có chuyện vay mượn tiền ngoài những phiếu chuyển tiền qua dịch vụ. Như vậy, về phía chứng cứ anh H. thua, tòa bác yêu cầu khởi kiện của anh. Đồng thời tòa còn buộc anh phải đóng án phí cho việc đòi không được này.
| Cần làm rõ bản chất giao dịch Với những tình tiết báo nêu, tôi cho rằng tòa nên bác yêu cầu khởi kiện đòi tiền của nguyên đơn vì phía này không có chứng cứ trực tiếp chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã không thừa nhận vay tiền. Các chứng từ chuyển tiền không nói lên được việc cho vay. Ở đây, tôi nghĩ tòa cần phải làm rõ hơn về quan hệ giao nhận tiền để có cách nhìn toàn diện về vụ án. Nhiều khi ra tòa, một bên trưng ra được bằng chứng tặng cho tài sản nhưng thực chất nó là vay mượn, mua bán... Tờ giấy tặng cho chỉ là giả tạo nhằm che giấu quan hệ vay mượn, mua bán. Rất nhiều vụ án tòa đã lật tẩy được chuyện này và bảo vệ đúng quyền lợi của đương sự. Thạc sĩ luậtLÊ HÙNG THẮNG |
MINH VY