Cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân liệu có đơn giản?

(PLO)- Đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân được cho là sẽ biến tài sản tích trữ thành đầu vào cho sản xuất. Tuy nhiên, chuyên gia cho rằng đây không phải "đũa thần" giải quyết ngay bài toán nguyên liệu vàng.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA) vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.

Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.

Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.

Khó kiểm soát thị trường tín dụng 'ngầm' bằng vàng

Trao đổi về vấn đề này, chuyên gia kinh tế, TS Lê Bá Chí Nhân đã đưa ra quan điểm trái chiều với đề xuất trên. Theo TS Lê Bá Chí Nhân, Việt Nam từng trải qua giai đoạn “vàng hóa” nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng; doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, còn người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với VND.

Hệ quả là chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỉ giá chịu áp lực lớn, hệ thống ngân hàng đối mặt rủi ro mất cân đối kỳ hạn và biến động giá vàng. Vì vậy, Nghị định 24/2012 ra đời với mục tiêu chấm dứt tình trạng vàng hóa, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng.

Do đó, theo ông Nhân, nếu bây giờ cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận, thì về bản chất là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác.

Và điều này tiềm ẩn 3 rủi ro vĩ mô lớn. Trước hết là rủi ro hệ thống, bởi doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng; khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.

Ngoài ra, khi giá vàng biến động mạnh, tranh chấp liên quan đến quy đổi giá trị, thời điểm thanh toán, lãi suất hay chất lượng vàng sẽ phát sinh phức tạp, gây áp lực lên hệ thống tòa án.

Cho phép vay vàng trong dân có thể hình thành một “thị trường tín dụng ngầm bằng vàng” rất khó kiểm soát. Ảnh: M.T

Rủi ro tiếp theo là làm suy yếu vai trò của tiền đồng. Khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng VND, đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước.

Và cuối cùng, việc này có thể hình thành một “thị trường tín dụng ngầm bằng vàng” rất khó kiểm soát, khi Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền và mức độ rủi ro.

"Theo tôi, vấn đề cốt lõi không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng ấy thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", TS Lê Bá Chí Nhân nhấn mạnh.

Ngoài ra, theo TS Lê Bá Chí Nhân, trong bối cảnh chúng ta đang áp dụng chính sách chống vàng hóa hiện nay, giao dịch vay vàng còn tiềm ẩn rủi ro với người dân. Bởi khác với gửi tiền vào ngân hàng, các khoản cho vay vàng dân sự không có bảo hiểm, không có cơ chế giám sát hay chuẩn mực quản trị rủi ro. Khi doanh nghiệp vỡ nợ, người cho vay gần như phải tự gánh toàn bộ thiệt hại.

Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân, chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh điều này rất khó hiện thực hóa. Theo vị này, vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức; và việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản.

Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.

"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả không? Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao?... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nói.

Minh bạch thông tin cần được đặt lên hàng đầu

Còn ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia Khoa Tài chính - Ngân hàng (Đại học Nguyễn Trãi), cho rằng nếu doanh nghiệp vay vàng trong dân, khi có trả lãi, thực chất không còn là giao dịch dân sự đơn thuần mà đã mang bản chất của một hoạt động tín dụng. Khi đó, các yêu cầu về chuẩn hóa, bảo đảm và kỷ luật thị trường trở thành yếu tố bắt buộc.

Một câu hỏi quan trọng khác được ông Huy đặt ra là: Điều gì xảy ra nếu doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính hoặc ngừng hoạt động? Theo ông Huy, khi đó nghĩa vụ hoàn trả vàng có thể bị gián đoạn, trong khi người dân không có cơ chế bảo vệ tương đương như hệ thống tiền gửi.

Do đó, ông Huy cho rằng cần đặt ra tiêu chí tham gia nghiêm ngặt đối với doanh nghiệp, bao gồm năng lực tài chính, lịch sử tuân thủ pháp luật và khả năng quản trị rủi ro. Quy mô huy động cũng cần được giới hạn phù hợp với vốn tự có để tránh rủi ro đòn bẩy.

Đồng thời, theo vị chuyên gia này, minh bạch thông tin là yếu tố then chốt. Doanh nghiệp cần công bố định kỳ về quy mô huy động, mục đích sử dụng vàng và các rủi ro liên quan. Kiểm toán độc lập cũng nên trở thành yêu cầu bắt buộc để xác nhận nghĩa vụ và tài sản.

"Trong bối cảnh Việt Nam đang theo định hướng hạn chế 'vàng hóa' nền kinh tế, việc mở lại cơ chế huy động vàng cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Một hướng tiếp cận khả thi là thí điểm với quy mô nhỏ, đối tượng hạn chế và có giám sát chặt chẽ", ông Huy nêu quan điểm.

Ông Huy cho rằng huy động vàng trong dân là ý tưởng nhằm tận dụng nguồn lực xã hội rất đáng lưu ý. Tuy nhiên, đây không phải là “đũa thần” có thể giải quyết ngay bài toán nguyên liệu cho ngành vàng trang sức.

Nếu không được thiết kế đồng bộ về pháp lý, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin, chính sách này thậm chí có thể tạo ra những bất ổn lớn hơn cho thị trường.

"Bài toán đặt ra không chỉ là có nên hay không, mà quan trọng là làm thế nào để vừa khai thác hiệu quả nguồn lực vàng trong dân, vừa đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính và niềm tin của người dân".

Trong bối cảnh Việt Nam đang theo định hướng hạn chế "vàng hóa" nền kinh tế, việc mở lại cơ chế huy động vàng cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Trong ảnh: Giao dịch mua bán vàng tại một cửa hàng ở Hà Nội. Ảnh: MT

Tại văn bản kiến nghị, VGTA cho rằng hiện việc huy động hoặc thu mua vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý do chưa có quy định điều chỉnh cụ thể. Điều này làm hạn chế khả năng chủ động nguồn nguyên liệu.

Theo tính toán của VGTA, mỗi năm ngành vàng trang sức cần khoảng 50 tấn vàng nguyên liệu, tương đương giá trị khoảng 5 tỉ USD. Bình quân mỗi tháng, nhu cầu ngoại tệ để nhập nguyên liệu chỉ vào khoảng 416 triệu USD, mức được đánh giá là khá nhỏ so với tổng doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng hiện dao động 25–30 tỉ USD/tháng. Vì vậy, việc mở cơ chế nhập khẩu nguyên liệu theo kiểm soát phù hợp được cho là không tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá.

Đáng chú ý, Hiệp hội cho rằng nếu 50 tấn vàng nguyên liệu được đưa vào chế tác, một nửa phục vụ tiêu dùng trong nước và khoảng 25 tấn dành cho xuất khẩu, kim ngạch thu về có thể đạt từ 3,5 đến 4 tỉ USD mỗi năm.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới