Chính phủ vừa ban hành Nghị định 374 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1-1-2026.
Đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương tháng
Cụ thể, Nghị định quy định người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng. Trong khi đó, người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ.
Nghị định cũng nêu rõ, Nhà nước sẽ hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.
Đối với người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật thì được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0% tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động. Thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.
Trong trường hợp trên, người sử dụng lao động phải đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan bảo hiểm xã hội, kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.
Chi trả trợ cấp thất nghiệp trong 5 ngày
Ngoài ra, Nghị định đã quy định cụ thể mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động.
Cụ thể, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = Mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp x 60%.
Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 6 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 6 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
Nghị định cũng nêu rõ, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng ngày.
6 trường hợp được xác định đóng bảo hiểm thất nghiệp
Nghị định cũng quy định 6 trường hợp được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể:
1. Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hoặc chấm dứt làm việc, được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
2. Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
3. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; không hưởng tiền lương tháng và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
4. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên trong tháng và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
5. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động từ 14 ngày làm việc trở lên; được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
6. Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.