Đề xuất viên chức là giảng viên luật có thể hành nghề luật sư

(PLO)- Nhiều chuyên gia đồng tình với đề xuất viên chức trong cơ sở đào tạo luật được trở thành luật sư và góp ý về các điều kiện để được hành nghề.

Mới đây, Bộ Tư pháp đã chủ trì họp Tổ soạn thảo hồ sơ chính sách Luật Luật sư (sửa đổi). Theo dự thảo Tờ trình, Luật Luật sư (sửa đổi) tập trung vào 3 nhóm chính sách lớn.

Một trong những nội dung đáng chú ý là việc dự luật sửa đổi sẽ quy định viên chức làm việc trong cơ sở đào tạo về pháp luật có thể trở thành luật sư khi bảo đảm một số điều kiện nhất định. Đây là một chính sách mới, bởi hiện nay theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) thì cán bộ, công chức, viên chức… thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

Chuyên gia đồng tình đề xuất viên chức được hành nghề luật sư nhưng cần theo lộ trình và điều kiện chặt chẽ. Ảnh: HUỲNH THƠ

Trước những chuyển động chính sách nêu trên, PV Pháp Luật TP.HCM ghi nhận một số ý kiến của các chuyên gia đang hoạt động trong lĩnh vực pháp luật:

ThS NGUYỄN NHẬT KHANH, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM:

Nên mở có điều kiện

Ths Nguyễn Nhật Khanh.

Tôi đồng tình với hướng tiếp cận mới cho phép viên chức được hành nghề luật sư, đặc biệt trong bối cảnh cải cách thể chế và phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao hiện nay.

Trước hết, cần nhìn nhận rằng việc cấm viên chức hành nghề luật sư được đặt ra trong bối cảnh Luật Luật sư năm 2006, khi yêu cầu tách bạch khu vực công - tư và phòng ngừa xung đột lợi ích được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên,bối cảnh kinh tế - xã hội, yêu cầu về hội nhập quốc tế và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý đã có nhiều thay đổi căn bản.

Nghị quyết số 66-NQ/TW đã thể hiện rõ định hướng đổi mới tư duy trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó nhấn mạnh việc phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có khả năng đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường hiện đại. Việc mở lại khả năng cho viên chức, nhất là giảng viên luật, được hành nghề luật sư là phù hợp với tinh thần đó.

Về bản chất, không phải mọi viên chức đều gắn với quyền lực công hoặc hoạt động quản lý nhà nước. Một bộ phận lớn viên chức hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung cấp dịch vụ công thuần túy, trong đó giảng viên luật là ví dụ điển hình.

Việc cho phép họ hành nghề luật sư, nếu được thiết kế với các cơ chế kiểm soát phù hợp, không những không làm suy giảm tính liêm chính của hoạt động công vụ mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và chất lượng đào tạo luật.

Nếu cho phép viên chức được hành nghề luật sư, điều kiện tiên quyết là phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo Luật Luật sư, bao gồm trình độ chuyên môn, đào tạo nghề luật sư, tập sự, cấp chứng chỉ hành nghề. Việc “mở cửa” không đồng nghĩa với nới lỏng chuẩn mực nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng xây dựng các quy định chặt chẽ để phòng ngừa và xử lý xung đột lợi ích. Viên chức hành nghề luật sư phải bị giới hạn rõ ràng về phạm vi vụ việc được tham gia, không được bào chữa, tư vấn hoặc đại diện trong các vụ việc có liên quan trực tiếp đến cơ quan, lĩnh vực mà mình đang công tác hoặc có khả năng tác động đến lợi ích công.

Đồng thời, cần có cơ chế minh bạch hóa hoạt động hành nghề, nghĩa vụ báo cáo và giám sát từ cả cơ quan quản lý viên chức và tổ chức luật sư.

Ngoài ra, việc bảo đảm tính độc lập của luật sư cũng đòi hỏi quy định rõ về thời gian, hình thức hành nghề (ví dụ hành nghề ngoài giờ hành chính), trách nhiệm kỷ luật kép nếu vi phạm chuẩn mực đạo đức công vụ và đạo đức nghề luật sư.

Lấy ví dụ về đội ngũ giảng viên luật, trong thực tiễn hiện nay, lực lượng này đã và đang tham gia khá sâu vào các hoạt động thực tiễn như trọng tài viên, hòa giải viên, tư vấn chính sách, nghiên cứu và xây dựng pháp luật. Những hoạt động này cho thấy năng lực chuyên môn và khả năng vận dụng pháp luật vào thực tiễn của giảng viên là hoàn toàn khả thi và đã được xã hội thừa nhận.

Việc mở rộng sang hành nghề luật sư, nếu có giới hạn hợp lý, sẽ tạo ra sự kết hợp cần thiết giữa lý luận và thực tiễn. Hoạt động hành nghề giúp giảng viên cập nhật các vấn đề pháp lý sống động, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp sinh viên tiếp cận không chỉ kiến thức lý thuyết mà còn các tình huống pháp lý thực tế, kỹ năng nghề nghiệp và chuẩn mực đạo đức nghề luật sư.

Tuy nhiên, cũng cần đặt ra những giới hạn rõ ràng, như không để hoạt động hành nghề luật sư ảnh hưởng đến nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học; không tham gia các vụ việc có yếu tố nhạy cảm về chính trị, lợi ích công hoặc liên quan đến cơ quan quản lý giáo dục mà giảng viên đang trực thuộc....

Tóm lại, nếu được thiết kế trên cơ sở thận trọng, minh bạch và kiểm soát hiệu quả, việc cho phép viên chức, đặc biệt là giảng viên luật, hành nghề luật sư sẽ là một bước tiến tích cực, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và phát triển Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

ThS - Luật sư CAO NHẬT ANH, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Phải kiểm soát xung đột lợi ích

ThS - Luật sư Cao Nhật Anh.

Đồng tình với đề xuất cho phép viên chức được hành nghề luật sư, song tôi cho rằng cần triển khai theo cơ chế có điều kiện và triển khai theo lộ trình phù hợp. Trước tiên, nên áp dụng đối với viên chức tại các cơ sở đào tạo pháp luật, trên cơ sở một số luận điểm chính.

Thứ nhất, đề xuất này phù hợp với chủ trương của Đảng (Nghị quyết số 66-NQ/TW năm 2025), nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống dịch vụ pháp lý, cải cách tư pháp và hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ hai, đáp ứng được định hướng sửa đổi pháp luật về Luật Luật sư, hành nghề luật sư tại Việt Nam trong thời gian tới, nhằm để nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ luật sư và chất lượng dịch vụ pháp lý; phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh; đồng thời từng bước hình thành chế định luật sư công tại Việt Nam.

Thứ ba, việc cho phép giảng viên luật hành nghề luật sư sẽ giúp khai thác hiệu quả những điểm mạnh về mặt học thuật - thực tiễn. Với nền tảng lý luận chuyên sâu, giảng viên luật khi tham gia hành nghề có thể nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng.

Ngược lại, quá trình hành nghề giúp đội ngũ này cập nhật thực tiễn sinh động, từ đó cải thiện chất lượng giảng dạy, tăng cường kỹ năng cho sinh viên và bổ sung nguồn luật sư chất lượng cao cho các lĩnh vực pháp lý chuyên sâu. Đây cũng là vấn đề đã được giới học thuật và truyền thông chuyên ngành nhiều lần khuyến nghị.

Thứ tư, rủi ro có thể được kiểm soát nếu khoanh vùng đúng đối tượng và phạm vi. Nhóm giảng viên luật có mức độ xung đột lợi ích thấp hơn so với các viên chức nắm giữ quyền lực công vụ trực tiếp. Nếu được thiết kế quy định phù hợp, đi kèm cơ chế giám sát nghiêm ngặt, nguy cơ xung đột lợi ích có thể được kiểm soát.

Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là phải nhận diện và kiểm soát xung đột lợi ích một cách nghiêm ngặt, bởi theo Điều 9 Luật Luật sư và Quy tắc 15 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, xung đột lợi ích chính là rủi ro lớn nhất khi một người đồng thời mang hai vai trò viên chức và luật sư.

Từ đó, cần đề xuất một số giải pháp có thể được thể chế hóa trong luật, nghị định hoặc quy chế, gồm: quy định phạm vi hành nghề có điều kiện, theo đó viên chức chỉ được cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý, đại diện ngoài tố tụng, tham gia trọng tài, hòa giải hoặc nghiên cứu pháp lý; chưa cho phép tham gia tố tụng tại Tòa án.

Riêng lĩnh vực tố tụng hình sự, chỉ xem xét cho phép khi đáp ứng tiêu chuẩn tăng cường và có cơ chế phê duyệt riêng, nhằm bảo đảm tính độc lập và năng lực nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, viên chức hành nghề luật sư phải kê khai và chịu sự giám sát song song của cơ quan nơi công tác và Đoàn Luật sư chủ quản. Theo đó, phải báo cáo và được đơn vị chủ quản phê duyệt về quỹ thời gian, nhiệm vụ; đồng thời định kỳ báo cáo quá trình hành nghề cho Đoàn Luật sư kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ và đạo đức nghề nghiệp.

Ngoài ra, cần đặt ra nghĩa vụ minh bạch thông tin đối với khách hàng và các tổ chức liên quan, bao gồm việc thông báo rõ công việc viên chức của mình, cam kết không tiếp nhận vụ việc liên quan trực tiếp đến cơ quan chủ quản hoặc có nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích.

Mặt khác, cũng cần đề xuất giới hạn thời gian hành nghề, chỉ cho phép hành nghề ngoài giờ làm việc của viên chức và quy định trần số giờ hành nghề theo tháng, quý. Đồng thời, không miễn trừ nghĩa vụ đào tạo nghề luật sư, áp dụng kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề theo mô hình thi quốc gia, bổ sung các học phần bắt buộc về xung đột lợi ích, bảo mật thông tin và quản trị rủi ro nghề nghiệp trước khi hành nghề, đúng theo định hướng nâng chuẩn luật sư.

Bên cạnh đó, cần minh bạch dữ liệu và giám sát xã hội. Công khai danh sách viên chức được phép hành nghề (họ tên, đơn vị, phạm vi, thời hạn) trên cổng dữ liệu kết nối Cổng PBGDPL quốc gia, trang thông tin điện tử của Đoàn luật sư; thiết lập kênh phản ánh/khiếu nại nhanh để tất cả các cơ quan, cá nhân, tổ chức có thể đồng thời giám sát...

PGS.TS - Luật sư BÙI KIM HIẾU, Trưởng khoa Khoa học Xã hội và Ngôn ngữ Quốc tế, Trường Đại học Gia Định:

Cần ranh giới rõ ràng để mang lại giá trị cộng hưởng

PGS - TS Bùi Kim Hiếu.

Tôi đồng tình vì như vậy sẽ tối ưu hóa nguồn lực trí tuệ. Đội ngũ viên chức là giảng viên luật tại các đại học, học viện có trình độ chuyên môn cao, việc cho phép họ hành nghề luật sư sẽ giúp tận dụng kiến thức chuyên sâu này vào thực tiễn tranh tụng và tư vấn, thay vì chỉ dừng lại ở lý thuyết.

Điều này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế. Tại nhiều quốc gia (như Đức, Pháp, Mỹ), việc giảng viên luật đồng thời là luật sư rất phổ biến, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa học thuật và thực tiễn pháp lý.

Tất nhiên, cơ quan soạn thảo cần đưa ra các điều kiện để bảo đảm chất lượng và tính liêm chính là ngăn ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm tính độc lập, cần thiết lập "hàng rào" kỹ thuật pháp lý chặt chẽ.

Điều kiện về thời gian: Phải ưu tiên hoàn thành định mức giờ giảng dạy và nghiên cứu tại đơn vị chủ quản. Việc hành nghề luật sư chỉ được thực hiện ngoài giờ hành chính hoặc theo thỏa thuận đặc thù với cơ sở đào tạo.

Cơ chế báo cáo và phê duyệt: Viên chức phải xin phép và được sự đồng ý bằng văn bản của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp trước khi tham gia một vụ việc cụ thể.

Kiểm soát xung đột lợi ích: Không được nhận các vụ kiện mà đơn vị chủ quản (trường học, bộ chủ quản) là một bên đương sự hoặc có quyền lợi liên quan; Không được lợi dụng danh xưng viên chức Nhà nước để tạo áp lực lên cơ quan tiến hành tố tụng.

Tiêu chuẩn nghề nghiệp: Vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình tập sự, thi sát hạch và bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp luật sư như các đối tượng khác.

Bên cạnh đó, cần lưu ý giới hạn về loại hình vụ việc. Có thể quy định giai đoạn đầu chỉ cho phép họ tham gia tư vấn dân sự, kinh doanh thương mại và hành chính. Đối với mảng hình sự, cần cân nhắc kỹ để tránh áp lực từ các mối quan hệ công vụ.

Ngoài ra, nên quy định họ chỉ được hành nghề tại các tổ chức hành nghề luật sư đã được thành lập, không nên cho phép tự mở văn phòng riêng để tránh phân tán nguồn lực quản lý. Đặc biệt, cũng cần quy định rõ, nếu vi phạm đạo đức hành nghề luật sư đến mức bị thu hồi thẻ, viên chức đó cũng phải bị xem xét kỷ luật tại cơ sở đào tạo và ngược lại. Điều này đảm bảo tính liêm chính tuyệt đối.

Việc mở cửa cho viên chức (trước hết là viên chức trong cơ sở đào tạo luật) hành nghề luật sư là một bước đi đột phá, phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp. Tuy nhiên, Luật Luật sư (sửa đổi) 2026 cần định nghĩa rõ "ranh giới" để sự kết hợp này mang lại giá trị cộng hưởng thay vì tạo ra những kẽ hở cho lợi ích nhóm hoặc suy giảm chất lượng giáo dục.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới