UBND xã Bảo Lâm 1 vừa cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến dự án trồng cây dược liệu, khoanh nuôi quản lý bảo vệ rừng, nuôi động vật dưới tán rừng của Công ty Cổ phần Hà Phong (Công ty Hà Phong) theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng.
Ken cây, đổ hóa chất phá rừng
Theo đó, năm 2010, Công ty Hà Phong được UBND tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án trồng cây dược liệu, khoanh nuôi quản lý bảo vệ rừng, nuôi động vật dưới tán rừng tại xã Lộc Ngãi (nay là xã Bảo Lâm 1). Dự án có tổng vốn đầu tư 70 tỉ đồng, quy mô hơn 418 ha. Trong đó, phần lớn diện tích là rừng tự nhiên được giao để quản lý, bảo vệ và phát triển.
Tuy nhiên, sau 16 năm kể từ ngày được cấp phép, kết quả thực tế lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn trái ngược với mục tiêu ban đầu. Theo hồ sơ, từ năm 2010 đến nay đã ghi nhận 118 vụ vi phạm lâm luật xảy ra trên diện tích dự án. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại lên tới 48,7 ha.
Đáng chú ý, khối lượng lâm sản thiệt hại được thống kê lên tới hơn 3.044 m³ gỗ tròn. Nhiều vụ phá rừng tinh vi bằng hình thức ken cây, đổ hóa chất khiến cây chết hàng loạt.
Trong đó có 7 vụ đã khởi tố chuyển Công an huyện Bảo Lâm cũ, 1 vụ đã khởi tố chuyển Công an tỉnh và 61 vụ xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm. Điều đáng nói, trong tổng số 118 vụ vi phạm có tới 49 vụ chưa xác định được đối tượng hoặc chưa có kết quả xử lý cuối cùng.
Nhiều thủ tục chưa hoàn thành
Một trong những vấn đề gây ngạc nhiên là dù được UBND tỉnh cho thuê rừng từ cuối năm 2010 nhưng đến nay Công ty Hà Phong vẫn chưa ký hợp đồng thuê rừng theo quy định.
Doanh nghiệp còn chưa hoàn thành nhiều thủ tục quan trọng như xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, lập quy hoạch xây dựng các hạng mục công trình hay thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính liên quan.
Trong suốt quá trình triển khai dự án, các cơ quan chức năng của tỉnh đã tổ chức ít nhất 5 đợt thanh tra, kiểm tra vào các năm 2013, 2016, 2018, 2023 và 2024. Kết luận của các đoàn kiểm tra đều yêu cầu doanh nghiệp khẩn trương khắc phục sai phạm, giải tỏa diện tích đất bị lấn chiếm, xử lý tình trạng mất rừng, ký hợp đồng thuê rừng và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Thế nhưng đến nay, phần lớn các nội dung này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Cơ quan chuyên môn xác định nguyên nhân chủ quan lớn nhất là dự án không thực hiện đúng tiến độ và nội dung đã đăng ký. Điều này dẫn tới hiệu quả quản lý bảo vệ rừng thấp, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm kéo dài nhiều năm.
Hơn một nửa diện tích dự án bị lấn chiếm
Báo cáo kiểm tra hiện trạng cuối năm 2024 cho thấy thực trạng còn đáng lo ngại hơn khi tổng diện tích hơn 405 ha được thuê đất để thực hiện dự án thì có tới 226,98 ha đã bị lấn chiếm hoặc sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, chiếm tới 56% diện tích toàn dự án.
Ngược lại, phần diện tích doanh nghiệp thực sự đưa vào sản xuất chỉ khoảng 2,41 ha, chủ yếu là trồng một số loại rau, hoa, cây dược liệu và xây dựng công trình phụ trợ. Trong khi đó, diện tích rừng còn lại chỉ khoảng 154 ha, nhiều khu vực đã bị tác động hoặc trồng cà phê dưới tán rừng. Các mục tiêu cốt lõi của dự án như phát triển dược liệu quy mô lớn, bảo tồn nguồn gen, nuôi động vật dưới tán rừng hay tạo sinh kế từ kinh tế rừng đều chưa đạt được như cam kết ban đầu.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy dự án chủ yếu tồn tại trên danh nghĩa quản lý bảo vệ rừng. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp và tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp với người dân vẫn liên tục diễn ra.
Cơ quan chuyên môn xác định trách nhiệm chính, trực tiếp đối với các vi phạm xảy ra trên diện tích được giao thuộc về Công ty Cổ phần Hà Phong. Đồng thời, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và lực lượng chức năng liên quan cũng phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc để các tồn tại kéo dài nhiều năm chưa được xử lý dứt điểm.
Sau 16 năm kể từ ngày được giao hơn 400 ha thì những gì còn lại tại dự án này không phải là một vùng dược liệu như kỳ vọng mà là gần 49 ha rừng bị mất, 118 vụ vi phạm lâm luật, hơn một nửa diện tích bị lấn chiếm và hàng loạt kiến nghị xử lý vẫn còn dang dở.
Câu hỏi đặt ra lúc này không chỉ là trách nhiệm thuộc về ai, mà còn là liệu những tồn tại kéo dài suốt nhiều năm qua sẽ được xử lý dứt điểm như thế nào để tránh tiếp tục thất thoát tài nguyên rừng và tài sản của Nhà nước.