Nước cờ của hàng Trung Quốc: “Lợi nhuận bằng không”

Tại sao các hãng sản xuất Trung Quốc sẵn lòng làm ra một sản phẩm với chi phí 1 USD và bán nó chỉ với giá 1 USD? Đây là toàn bộ một chiến lược lâu dài và cái “lợi nhuận bằng không” đó có hiệu quả kinh tế.

LTS: Tác giả Paul Midler trong cuốn Poorly Made In China do nhà xuất bản John Wileys & Sons của Mỹ xuất bản trong năm vừa qua đã tiết lộ những chiến lược kinh doanh của các hãng sản xuất Trung Quốc. Ngoài chuyên ngành lịch sử và ngôn ngữ Trung Quốc, Paul Midler còn là thạc sĩ kinh tế. Ông đã làm chuyên gia tư vấn và giám sát cho hàng chục công ty Mỹ và châu Âu cùng hàng trăm nhà máy của Trung Quốc. Chúng tôi lược trích một chương trong cuốn sách này.

Các công nhân ở dây chuyền kiểm tra chất lượng của một nhà máy sản xuất đồ chơi xuất khẩu tại Thượng Hải Ảnh: Tư liệu

Sau rất nhiều vụ thu hồi sản phẩm “Made in China”, nhiều người bênh vực các hãng sản xuất Trung Quốc, đổ lỗi cho giá thấp, và nói rằng các nhà nhập khẩu phương Tây đã ép buộc hãng sản xuất phải làm ra sản phẩm trong khi gần như không có lãi.

Lời khẳng định này không ăn khớp với những quan sát riêng của tôi ở Trung Quốc. Tôi đã theo dõi trong nhiều năm khi các hãng sản xuất tự nguyện thoả thuận trong những vụ giao dịch mà lợi nhuận có vẻ thấp, nhưng đồng thời các hãng này cũng trở nên phát đạt. Các chủ nhà máy than nghèo, nhưng rồi họ mở mang năng lực sản xuất to lớn và bỗng nhiên trở nên giàu có.

Hàng giả nhãn hiệu

Một hôm tôi đang đứng ở cổng nhà máy King Chemical ở Sán Đầu thì thấy một chuyện bất thường. Một trong các xe tải của nhà máy sắp rời khỏi xưởng hình như đang chở số chai rỗng của Johnson Carter – công ty Mỹ chuyên về các sản phẩm xà-bông, dầu gội. Thông thường, chai chất dẻo được mang từ nhà cung cấp tới xưởng, nhưng chai rỗng không bao giờ đi ra khỏi xưởng.

Đây là chai để đựng sữa tắm của chúng tôi. Đó là một trong những loại chai mà xưởng đang tự sản xuất trong một căn nhà nhỏ ở cạnh cơ sở, và vì xưởng cũng rót chế phẩm vào chai tại chỗ nên không có lý gì đem chai đi chỗ khác. Chận người lái xe trên đường đi ra, tôi hỏi anh ta đi đâu.

“Tới xưởng khác”, anh ta nói. “Cái xưởng ở cạnh toà thị chính”.

Tại thời điểm đó, chúng tôi không biết tới một hoạt động nào khác, và Bernie – giám đốc Johnson Carter – lo ngại. “Tôi cần ông tìm ra cái xưởng kia”, ông điện thoại cho tôi từ Mỹ, “nhưng đừng cho ai biết là ông đi tìm nó”.

Tôi thuê một chiếc xe và lái quanh khu vực mà người tài xế đã chỉ. Anh ta đã nói tới một toà nhà chính phủ không ở trong thành phố Sán Đầu, nhưng nằm trong một thành phố tự trị nhỏ hơn gần King Chemical. Sau hai ngày lùng sục, tôi tìm ra chỗ đó trong một khối nhà dọc một con kênh thoát nước ô nhiễm.

Khó mà gọi đó là nhà máy, đó chỉ là một ngôi nhà nhỏ với một ít công nhân bên trong. Họ đang dán nhãn lên chai nhựa bằng tay – nhãn Johnson Carter! Điều kỳ quặc trong hoạt động gian giảo này là họ đang chuẩn bị chai đựng sữa tắm, và ở thời điểm đó chúng tôi không đặt hàng gia công sản phẩm này.

“Ông nghĩ họ đang làm gì ở đó?”, Bernie hỏi, dù ông đã có sẵn một ý nghĩ. Chúng tôi đã làm việc với một đại lý ở Úc có mua bán sản phẩm chăm sóc sức khoẻ và làm đẹp ở Trung Đông và khắp Đông Nam Á. Ông ta đã đặt làm một số hàng (vài container), ngẫu nhiên gồm có một lượng lớn bất thường sữa tắm. Người Úc này gởi tới chúng tôi vài đơn đặt hàng rồi biến mất.

Bernie kết nối hai sự kiện với nhau và nghĩ rằng đại lý này đã liên hệ thẳng với xưởng và đặt mua sản phẩm Johnson Carter sau lưng ông. Bằng cách buôn bán lậu những dạng hàng hoá hiệu Johnson Carter, đại lý và nhà máy kiếm thêm cho mình được chút ít.

Cứ để họ làm!

Sản xuất hàng giả là vấn đề nghiêm trọng ở Trung Quốc, và một trong những hình thức lan tràn nhất của nó là nhà máy bán sản phẩm thặng dư cho đại lý trái phép. Đối với những nhà máy bán sản phẩm sát giá thành cho khách hàng chính của mình, hoạt động buôn lậu loại này là một nguồn lợi quan trọng.

Dĩ nhiên bà Giang Tỉ – giám đốc King Chemical – biết ngay cuộc viếng thăm của tôi, và chỉ chờ phản ứng của Bernie. Tôi hỏi ông là có muốn tôi đối chất với King Chemical về hoạt động dán nhãn gian giảo này không. Bernie làm tôi ngạc nhiên khi nói rằng ông muốn bỏ qua vụ này.

Ông không muốn truy vấn. Làm khó nhà máy là việc không đáng, ông nói, vì lợi nhuận chỉ có thể kiếm được trên đôi ba container. Johnson Carter xuất đi hàng trăm container; làm om sòm với nhà máy vì chuyện nhỏ mọn như vậy chỉ gây rủi ro cho chuyện làm ăn lớn hơn của Johnson Carter.

Những nhà nhập khẩu Mỹ làm ăn lớn cũng có thái độ này đối với việc sản xuất hàng giả ở Trung Quốc. Miễn là chuyện mua bán cửa sau này không trực tiếp cản trở chuyện làm ăn cốt tử của nhà nhập khẩu, một lượng nhỏ hoạt động bất hợp pháp như vậy thực tế là có thể dung thứ.

Johnson Carter quá bận bịu với thị trường Mỹ, Bernie giải thích. Ông chỉ có đủ thì giờ bay tới Trung Quốc. Tìm cách thu lợi ở những thị trường xa xôi như Dubai hay Manila là không hợp lý. “Nếu việc đó có ý nghĩa quan trọng với nhà máy”, ông nói, “đến nỗi họ tránh né quẩn quanh như vậy, cứ để họ làm”.

Ý của Bernie là cứ để xưởng tiếp tục những chuyện làm ăn phụ mà nó có thể tạo ra. Thách thức lớn nhất là giữ giá thấp. Nếu xưởng có thể tạo thu nhập bổ sung qua một ít hàng lậu, thì hãng sản xuất có thể xem cơ hội này là một trong nhiều lợi ích khi cộng tác với một công ty như Johnson Carter.

 (Còn tiếp)

Theo Trần Đức Tài (SGTT)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới