Hủy hai bản án vụ tranh chấp quyền sử dụng đất
(PLO)- Tòa án không thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, dẫn đến không xác định được vì sao bên thừa đất, bên thiếu đất, diện tích tranh chấp là của hộ nào.

VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng vừa ban hành Thông báo rút kinh nghiệm vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Dương Minh K. và bà Vũ Thị L., bị đơn là ông Võ Q. và bà Nguyễn Thị P.

Theo đơn khởi kiện, năm 2015, nguyên đơn nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trọng T., bà Nguyễn Thị Mai H. thửa đất có diện tích 12.305 m2.

Khi nguyên đơn bàn giao thực địa có sự chứng kiến của ông T., bà H. và bị đơn. Các bên có lập biên bản thỏa thuận phân định ranh giới, đồng thời trừ ra một phần diện tích đất để làm lối đi chung.

Tuy nhiên, đến năm 2016, gia đình ông Q. rào cả phần diện tích làm đường đi. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hộ ông Q. trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1.320 m2 và tháo dỡ hàng rào.

Phía bị đơn cho rằng chỉ rào phần đất của mình chứ không rào sang phần đất của nguyên đơn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. 

Hủy hai bản án vụ tranh chấp quyền sử dụng đất - ảnh 1
Ảnh minh họa.

Tháng 7-2018, TAND huyện K, tỉnh Đ xử sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc hộ ông Q. trả cho hộ ông K. 1.320 m2 đất và phá bỏ tài sản gắn liền với phần đất trên. Ông Q., bà P. kháng cáo.

Tháng 11-2018, TAND tỉnh Đ xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác đơn khởi kiện. Các bên có quyền khởi kiện tranh chấp lối đi chung thành một vụ kiện riêng.

Sau đó, ông K., bà L. có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Viện trưởng VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Ủy ban Thẩm phán tòa cùng cấp hủy án sơ và phúc thẩm để xét xử lại.

Tháng 9-2019, Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại Đà Nẵng có quyết định chấp nhận kháng nghị.

Qua đây, VKS nhận thấy một số vấn đề cần rút kinh nghiệm. 

Cụ thể, nguồn gốc đất của hộ ông Q. là nhận chuyển nhượng từ năm 1995 của một người dân tộc Thái không rõ lai lịch và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).

Năm 2000, hộ ông Q. được cấp GCNQSDĐ thửa số 57 diện tích là 19.520 m2. Năm 2017, ông Q. chuyển nhượng 10.244,6 m2 cho hộ ông Trần Ngọc B. (phần tiếp giáp đất với ông K.).

So sánh kết quả đo đạc và GCNQSDĐ (không tính diện tích đất tranh chấp), diện tích đất của ông K. thiếu 1.370,6 m2, ông Q. thừa 2.865,9 m2, ông B. thừa 56 m2.

Quá trình giải quyết vụ án, tòa án không thu thập hồ sơ cấp GCNQSDĐ lần đầu của hai hộ tranh chấp mà chỉ thu thập hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận và hồ sơ tách thửa đối với các thửa đất liên quan.

Do vậy, đơn vị đo đạc chỉ căn cứ vào ranh giới do chủ sử dụng đất chỉ dẫn để đo đạc mà không xác định được ranh giới được cấp giấy chứng nhận của các bên.

Từ đó không xác định được vì sao ông Q. thừa đất, ông K. thiếu đất, diện tích đất tranh chấp nằm trong GCNQSDĐ là của hộ nào.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc hộ ông Q. trả cho hộ ông K. 1.320 m2 đất, trong khi diện tích đất tranh chấp (theo kết quả đo đạc) chỉ có 755,6 m2 là không có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K., bà L., các bên có quyền khởi kiện tranh chấp lối đi chung thành vụ kiện khác là không giải quyết triệt để vụ án.

(Theo vksndtc.gov.vn)

DƯƠNG DUNG