Truyện ngắn "Người quê ở phố" của Lê Văn Thảo

Một người đàn ông tuổi trên sáu mươi, gầy gò hom hem, tóc hoa râm, quần áo xám xịt, giày da mòn vẹt không vớ, chiếc túi xách cũng cũ như quần áo, chiếc nón lưỡi trai dùng luôn làm khăn lau, đang rảo bước dọc theo hè đường có hàng cây sao râm mát. Ông đi hối hả tất bật, như có chuyện gì gấp lắm.

Nhưng đang sải chân ông chợt dừng lại cúi xuống nhìn chăm chú chiếc nắp cống sát bờ hè, cũ xì xám xịt, hàng chữ số nhìn kỷ lắm mới nhận ra: 1838. Một chiếc nắp cống tuổi hơn trăm, vậy thôi. Nhưng ông có vẻ quan tâm lắm, đứng nhìn mãi, ngồi thụp xuống lấy tay phủi đất để nhìn rõ hơn, ánh mắt phút chốc mờ đi. Ông nhìn thấy gì đằng sau chiếc nắp cống cổ xưa ấy? Tưởng tượng ra điều gì? Điều đó chỉ mình ông biết.

Ông đi tiếp. Là người đi bộ, nhưng đường đi của ông dài hơn những người khác. Mới hửng sáng ông đã đi băng qua cả nửa thành phố. Ông đi trên hè đường lát đá gồ ghề, bước thấp bước cao. Chợt có tiếng kêu: “Ghé uống cà phê ông già ơi!”. Ông nhìn lên. Hội quán văn nghệ thành phố, buổi sáng anh em văn nghệ sĩ tụ tập uống cà-phê trò chuyện. Ông đi thẳng vào. Bốn năm người trẻ tuổi ngồi quanh chiếc bàn vuông chân đế cao, phía trước có thành lan can treo dảy phong lan xanh đỏ. Một người trẻ tuổi ra vẻ quen biết gọi lớn vào trong:

“Cho ông già ly cà-phê đen không đường”. Rồi hỏi: “Bữa nay ông đi đâu?”.

Ông làm thinh. Làm sao biết được ông đi đâu? Người vừa hỏi chừng cũng biết vậy, nói tiếp:

“Là tôi muốn hỏi ông có cần đệ tử chở đi không?”.

“Không”, ông đáp. “Hôm nay không có chuyện gì, đi loanh quanh đây thôi”.

“Có tin gì dưới quê không?”.

Ông không đáp. Đây là nỗi niềm ông không muốn tỏ cùng ai. Ông ở thành phố đã hơn bốn mươi năm, đau đáu nhớ quê, bạn bè ai cũng biết. Ông khuấy cà phê uống, chìm đắm vào những hồi tưởng mông lung. Những người trẻ tuổi để ông yên, quay ra chuyện vãn với nhau.  Năm nay mưa nhiều, triều cường lên cao, miền Trung bị hạn hán. Bé gái 12 tuổi ở Đồng Tháp bị công an hỏi cung. Một hang sâu vùng núi Thanh Hóa có đàn cá thần, bà con giữ hàng trăm năm cho khách hành hương viếng thăm. Nam thanh nữ tú ở Hà Nội vặt trụi bông hội chợ hoa xuân. Nước Mỹ tưởng niệm mười năm ngày tháp đôi bị máy bay đâm đổ. ở Vĩnh Long có con gà chín cựa...

Ông ngồi một góc, lắng nghe chỉ một bên tai. Lâu lắm, người trẻ tuổi quen biết quay lại:

“Hôm nay ông không có chuyện gì kể hả?”.

Thường ghé bàn trà quán nhậu nào ông cũng có chuyện để kể, đi nhiều nơi nghe nhiều chuyện kể lại cho mọi người nghe vậy thôi, kể hoài thành ra như người nợ chuyện mọi người. Đôi khi không có chuyện kể ông tưởng tượng ra, thêm chỗ này bớt chỗ kia, chuyện thật trộn lẫn chuyện tưởng tượng, nhiều chuyện tưởng có đâu đó nhưng không có đâu cả. Đa phần chuyện kể của ông có địa chỉ tên làng tên xã ngày tháng hẳn hoi, giới học giả do vậy liệt ông vào hàng nghiên cứu, những trang ghi chép về đất đai thổ nhưỡng, mùa nắng mùa mưa, cảnh đốt đồng, gió mùa heo may, những sợi tơ trời bay xuống từ vùng Bảy Núi, được trích dẫn vào các công trình địa chí.

Hôm nay ông không có hứng, có gì đó bất an trong lòng, chưa nghĩ ra chuyện gì. Mấy bà vợ xích mích chăng? Đám con cần chứng giấy tờ lý lịch? Tờ báo đòi bài viết? Nỗi bất an cứ lớn dần. Ông thường có những lúc như vậy, đột nhiên thấy xốn xang, lẫn lộn chuyện đời thực với chuyện sách vở. Một buổi sáng thức dậy nhớ ra phải về quê thăm một bà má ơn nghĩa hồi trong chiến tranh, đang lâm bịnh nặng. Lát sau đi uống cà phê biết ra không phải như vậy, đó là nhân vật trong truyện ông đang viết, một bà má ơn nghĩa như vậy, “vinh qui bái tổ” rồi không ai về thăm.

Người bạn trẻ quen biết lại nói:

“Không có chuyện kể thì thôi. Nhưng nghe thằng em hỏi điều này: ông là người quê đâu? Cả đời ông ở thành phố, nhưng toàn viết chuyện Cà Mau với rừng U Minh. Thật ra ông ở đâu?”.

“Tôi là người nhà quê”, ông đáp.

“Đúng rồi”, người trẻ tuổi cười lớn. “Có triệu đô la trong túi ông vẫn là người nghèo. Nhưng ông học Tây, thông thạo chuyện Đông Tây kim cổ. Ông vừa viết truyện vừa làm công việc nghiên cứu, sưu khảo phong tục tập quán, ngôn ngữ địa danh không ai bằng ông. Nghe nói ông còn làm khảo cổ nữa. Ông có làm khảo cổ không?”.

“Là ốc mượn hồn vậy thôi”.

“Ông có ba bà vợ, làm sao quản?”.

“Thì phải thương gấp ba”.

Mọi người cười, ông cũng cười , như nghe chuyện người khác. Rồi cứ nhấp nhỏm đứng lên ngồi xuống, vừa muốn đi tới chỗ nào đó lại nấng níu đám người trẻ tuổi vui vẻ này.

“Thôi kể chuyện khảo cổ vậy”, người vừa rồi lại nói. “Nghe nói hôm rồi ông “trúng vố lớn” lắm phải không? Kể chuyện đó đi!”.

Được, nhưng để ông nhớ lại đã. Chuyện như vầy… Một bữa đi đường ông thấy bày bán một bức tượng đá cổ vừa đẹp lại vừa có nét thô kệch. Ông ngờ ngợ. Không lẽ người xưa non kém như vậy sao? Nếu không thì là cái gì? Ông rờ rẩm, cầm bức tượng lên ước lượng tỉ trọng, nhìn kỷ từng vân đá, thổi phù phù vào lớp bụi phủ của thời gian ngàn năm. Rồi bỏ đi, rồi trở lại cầm lên ngắm nghía. Mua hay không mua? Ông dành cho mười lăm phút suy nghĩ. Rồi quyết định mua. Năm ăn năm thua, như bất cứ cuộc phiêu lưu nào. Ông đánh cuốc tắc xi đem bức tượng về nhà cất vô tủ, điện kêu đám bạn chờ trúng lớn đãi nhậu. Đêm hôm đó giữa khuya mọi người ngủ cả, trong yên tĩnh ông lấy bức tượng ra gõ nhẹ, tin vào linh cảm của mình, nhà điêu khắc cổ xưa che giấu cái gì. Ông đã đoán đúng. Lớp bột đá phủ bên ngoài bễ ra, để lộ bức tượng người vũ nữ tuyệt đẹp….

Nói chưa hết câu ông đứng dậy cười lớn đi ra khỏi quán. Mọi người nhìn theo.

“Chuyện hay quá!”, một người nói. “Nhưng nghe như có nghe ở đâu rồi“.

“Thì chính ông ta kể mà”, người khác nói. “Tôi nhớ ra rồi, hôm nào ở đâu ông ta cũng kể chuyện y như vậy, chỉ có khác không phải cô vũ nữ đẹp tuyệt vời mà là một con rùa đá”.

“Khảo cổ là phải chính xác”, người khác nữa nói. “Không được khi vầy khi khác”.

“Nhưng ông ta là nhà văn, không phải nhà khảo cổ”, người trẻ tuổi quen biết cải lại. “Coi như không phải ta nghe một chuyện khảo cổ, mà nghe một truyện ngắn, được không?”.

Ông không nghe thấy những lời đó. Ông đã đi xa, sang bên kia đường, vẫn cười, xuôi theo hè đường có hàng cây me lá rụng lăn tăn. Trời còn sớm. Ông còn nhiều việc, còn đi xa đường lắm. Ghé Lăng Ông Bà Chiểu coi có chuyện gì không, ông có chân trong ban trị sự. Rồi ghé thư viện tra cứu chuyện gì ông quên mất. Sau đó đến nhà ông bạn già tiếp tục tranh luận về địa danh Bãi Voi ở quận Gò Vấp, tương truyền đó là bãi tắm voi của quân vua Gia Long. Cuộc tranh luận có từ lúc hai người còn trẻ, lùng sục các thư viện tàng thư sách cũ tìm chứng cứ chống lại nhau, người nói đúng người nói sai, đôi khi đổi bên cho nhau. “Cuộc chiến” bất phân thắng bại kéo dài đã hơn ba mươi năm, và có cơ kéo dài ba mươi năm nữa.

Không định nhưng ngẩng lên ông thấy mình đi ngang bịnh viện Chợ Quán. Ông có duyên nợ với nơi này. Đầu tiên là cái tên, Chợ Quán hay Chợ Oán? Có câu ca dao: ở đây chợ oán thêm sầu. Ông định xong chuyện Bãi Voi đem chuyện này tranh luận với ông bạn già. Câu ca dao đứt khúc, không có ý nghĩa gì, nhưng tên đất tên làng là linh thiêng, cần phải truy tìm căn nguyên gốc gác. Đây là bệnh viện người điên, lần đầu tiên đứng nhìn vào những người bận đồ trắng đi tới lui vật vờ ông không rời mắt ra được. Sau đó lần nào đi ngang ông cũng ghé, có chỗ nhìn riêng, sau một lô cốt đề năm 1920 còn trơ bốn bức tường mấy hốc đen ngòm, nhìn vào qua một khe nhỏ chỉ thấy được một khoảng sân. Ông không hề thấy những người điên là xa lạ, ngược lại cảm thấy gần gũi, có cảm giác trí óc họ dù chỉ còn le lói lại dường như hướng tới cái gì đó rất cao xa.

Ông đến nhà ông bạn già lúc gần trưa. Ông bạn không có nhà, bận nuôi thằng cháu nội trong bịnh viện. Chuyện tắm voi quân lính vua Gia Long đành gác lại. Ông đi thẳng đến ngôi chùa cạnh thảo cầm viên. Ngôi chùa không lớn nhưng nằm ở khu trung tâm, đông người viếng, sân bãi chật chội, có nấu cơm từ thiện buổi trưa mấy trăm suất cho người nghèo. Ông thường ghé ăn cơm trưa ở đó. Ông có chân trong ban vận động cúng tế, vị sư trụ trì là bạn vong niên, thấy ông đều mời cơm nhưng ông từ chối. Ông thích ngồi ăn chen với những người ăn xin, trẻ lang thang bán vé số, người nghèo và cả người không nghèo, ăn cơm chùa để lấy phước. Ông không nghèo cũng không mong được phước, chỉ muốn được ngồi trong đám đông nồng nặc mùi mồ hôi, tiếng cười nói ồn ào, những câu chuyện không đầu đuôi,  bàn ghế chật chội thức ăn đạm bạc, khách ăn nón đội trên đầu túi xách mang bên hông, không biết người ngồi bên là ai. Nhà chùa có lòng tốt đải cơm, ăn mau còn đi làm công chuyện của mình.

Ngồi đối diện ông là một ông già người nhỏ thó, trông lanh lợi như thanh niên.

“Ăn đi”, ông già nói, cắm cúi ăn, lùa cơm húp canh sùm sụp. Rồi nói tiếp: “Bữa cơm chiều kiếm được ở đâu chưa?”.

“Chưa”, ông đáp.

“Ráng ăn no”, ông già nói, vẫn không ngừng ăn, không biết tiếng nói thoát ra từ đâu. “Không ai thương mình bằng cơm. Thuốc nam thuốc bắc bú cặt cho cơm. Tôi ăn bữa trưa này no luôn tới mai. Bữa chiều uống trà đường quảng cáo đằng hội chợ, trà Tây tanh rình nhưng đường nhiều lắm, uống bao nhiêu cũng được”.

Họ tiếp tục ăn. Ông thấy mình cần phải góp chuyện:

“Người già không nên ăn nhiều đường”.

“Tôi không phải người già, tôi là người nghèo”, ông kia nói. “Còn ông?”.

“Tôi không giàu”.

“Biết rồi, đã ăn cơm thí ở đây mà. Nhưng sao phải lang thang như vầy? Con người ta sinh ra ai cũng có một mái nhà, đi lang thang là bị trời đày. Tối nay ngủ đâu?”.

“Tuổi này còn ngủ nghê gì nữa”, ông đáp cho qua.

Họ ăn mau, hối hả tất bật, như đánh giặc. Nón chưa kịp lấy xuống, những câu hỏi chưa kịp có câu trả lời, chén dĩa không cần phải dọn, không một hột cơm cọng rau còn sót lại vương vải trên mặt bàn. Và miếng cơm cuối cùng họ đứng dậy ra đi gần như cùng một lượt, cả gian nhà phút chốc trống trơn, lặng thinh không có cả tiếng ruồi vo ve.

Ông ăn mau nhưng không vội ra đi. Bên hông chùa có gian thảo bạc không vách che, bốn bề gió lùa. Một bộ ván gỏ dầy cả gang tay mát lạnh dành cho khách bộ hành lở chân nghỉ độ nhựt. Ông ra sau chào bà bếp, xin chén trà uống xì xụp, rồi ra thảo bạc ngủ trưa, gối đầu trên chiếc gối gỗ cứng ngắc, hưởng không khí yên tĩnh nhà chùa giữa lòng thành phố, thú vui của ông nhiều năm nay. Ông ngủ sâu hơn tiếng đồng hồ, không mộng mị, thức dậy ra dãy lu nước phía sau múc uống rồi đi luôn ra cổng, nhắm hướng bến sông, chuyến đi cuối cùng trong ngày. Đó là bến sông chạy dài theo chiều dọc của thành phố, ghe lớn ghe nhỏ đậu san sát, hàng hóa thực phẩm nông sản từ miền Tây đưa lên, miền Đông chở xuống, tiêu thụ ở thành phố hoặc làm trạm trung chuyển giữa hai miền. Việc trao đổi mua bán đã xong từ giữa khuya, bến sông im lìm vắng vẻ. Ông không quan tâm, ông đâu có mua bán gì. Ông chỉ cần nhìn ngắm. Những chiếc ghe từ miền Tây lên còn nồng mùi bùn đất, nhìn mủi ghe hình con cá biết ghe ở tỉnh thành nào, ghe chở chuối chở khóm, cam quít và khoai củ, gạo nếp và đậu các loại. Nhiều ghe chất đầy cần xé đựng khô mắm. Ghe chở cá chỉ còn những chiếc rộng nhẹ tênh. Ghe từ vùng tứ giác Long Xuyên, kinh xáng Xẻo Rô, rừng U Minh chua phèn, bán đảo Cà Mau ngập mặn còn bám những con hào, be ghe hà ăn lủng lỗ chỗ.

Một chiếc ghe chở nồi đất nhẹ hều nổi lều bều trên mặt nước, một ông già ở trần bận quần cụt ngồi chồm hỗm hút thuốc trước mũi ghe.

“Ghe có bán cà-ràng không?”, ông đứng lại hỏi vọng xuống.

“Ông mua cà-ràng hả?”, ông già hỏi vọng lên.

“Không”.

“Không mua hỏi làm chi?”.

“Ông không bán làm sao tôi mua?”.

Ông đi lần xuống. Ông già vô trong bưng bình trà ra rót mời khách. Ông uống trà, nói nhớ chiếc cà-ràng hỏi vậy thôi chớ mua bán gì. Ông già nói biết rồi, thời buổi này ai còn nấu cà-ràng nữa. Lò đất nồi đất cũng không. Ông nói vậy ông chở nồi đi đâu, ông nói. Ông già đáp đi lên đi xuống vậy thôi. Trên sông không có ghe chở nồi coi buồn lắm. Đúng rồi, ông đáp. Tôi ra đây là cốt ngó chiếc ghe nồi này. Hai ông già tiếp tục uống trà chuyện vãn, nhắc lại chuyện cũ, vui cho chuyện xưa buồn cho chuyện nay. Chuyển qua nấu nồi nhôm hết rồi, ông buồn bã nói. Nồi nhôm chỉ có sáng choang, khua rổng rảng chớ được tích sự gì, nấu cơm xảm xì không ngon. Ước chi được ăn bữa cơm nấu nồi đất trên chiếc cà-ràng, chụm bằng rơm lúa mới, bới cơm bằng chiếc đũa bếp, chén cơm bốc khói thơm lừng, miếng khô nướng, con ba khía bẻ đôi để lên trên. Biết rồi, ông già nói. Ông nói làm tôi bắt thèm. Còn đâu nữa, thời thế đã đổi khác. Người ta đổ xô ra thành phố sống chui rúc, ăn cơm trên dĩa nhôm chén nhôm muổng nĩa khua loảng xoảng, giữa trưa nắng từ dưới đường dội lên, mái tôn dội xuống, thở ì ạch quạt lấy quạt để, một ngọn gió lùa cũng không có. Chui rúc ở nhà rồi chui rúc vô nhà máy xưởng thợ. Vậy mà người ta cứ ùn ùn lên thành phố, không hiểu tại sao? Ông cũng vậy chớ gì? Nhớ quê sao không về? Ông già nói như quát vào mặt ông. Rồi lại thở dài nói tiếp, giọng buồn bã: Nói ông chớ tôi cũng vậy thôi. Quanh năm lênh đênh trên sông nước, đồng lúa lũy tre chỉ thấy lờ mờ xa xa. Tại sao?

Đâu biết tại sao, trời đày vậy thôi. Ông nói, uống vội chén trà chào từ giã, lên bờ tiếp tục đi dọc theo sông. Những chiếc ghe ghếch mủi đón chào. Trời chiều dần. Nắng đã tắt, bữa cơm chùa đã tiêu hóa hết. Nhưng ông không thấy đói, bước chân nhẹ tênh. Trước mặt rừng ghe kéo dài mãi, nối tiếp vào cõi mông lung. Ông đi mau hơn, như lướt trên mặt đường. Buổi chiều nghỉ ngơi thanh thản, bến sông thành chợ nổi của rừng ghe. Một đám trẻ nít chơi đùa trên bãi cát. Một ông già ngồi hút thuốc ở mũi ghe. Một cô gái chải tóc trên mui ghe. Ông vẫn đi, hôm nay ông phải đi cho tới cùng. Một đám con nít tóc ba vá kéo chơi chiếc mo cau, đứng lại nhìn ông:

“Tìm ai, ông già ơi!”.

“Có ông Từ Thông ở đây không?”.

 “Ông Từ Thông ở Hòn Cổ Tron phải không?”, đám trẻ cười rộ lên, chỉ tay ra ngoài xa. “ổng neo ghe ngoài kia kìa, đi chuyền theo dãy ghe này nè”.

Ông biết. Tục lệ chợ nổi cho phép mọi người đi chuyền từ ghe trong ra ghe ngoài.  Nhà cửa cũng vậy, hiên nhà là đường đi, thông thoáng từ nhà này sang nhà khác. Không rào chắn, kẽm gai lô cốt. Không như ở thành phố. Ông đi chuyền từ mũi ghe này sang mũi ghe khác, rừng ghe càng lúc càng ken khít, nối tiếp nhau kéo dài mãi. Tất cả xuồng ghe tụ họp về đây. Chiếc ghe cuối cùng neo đậu ngoài xa, chiếc đòn dài nổi lều bều trên mặt nước. Ông bước đi nhẹ nhàng trên chiếc đòn dài, không một chút nghiêng ngả. Chiếc ghe hiện ra sát bên, không mũi không lái, neo đậu vững chãi như có từ ngàn đời. Một ông già khô cằn ngồi giữa lòng ghe, chiếc đèn dầu cá đặt trước mặt.

“Ngồi xuống đi”, ông già gọi.

Ông ngồi xuống. Ông già nói tiếp:

“Ta đợi ngươi lâu lắm rồi, biết thế nào ngươi cũng đến”.

“Con nhớ ông lắm, nhớ quê lắm”, ông thổn thức.

“Ta biết. Nhưng vẫn bám thành phố, phải không? Lòng trần không dứt được. Cũng phải thôi. Ngồi xuống đi!”.

“Con ngồi rồi. Ông ăn uống gì chưa?”.

“Còn ăn uống gì nữa! Ta đã thôi ăn uống từ lâu rồi, đã trăm bốn lăm tuổi rồi, chắc ngươi còn nhớ. Ngươi còn nhớ không?”

“Dạ nhớ”.

“Dạo đó đang giặc Xiêm, Tây Xiêm đánh nhau mà dân mình khổ. Ta nghèo quá đi lang bạt mần ăn, không có giấy thuế thân phải nương náu ngoài hòn giữa biển, tiếng đồn ta ở truồng ăn toàn cóc nhái. Thật ra ta sống không đến nỗi gì, sung sướng nữa là đằng khác. Hòn có nước ngọt, cây trái có thứ ăn được. Dừa rất nhiều, xoài cũng có. Không có lúa nhưng có khoai củ, cá đầy dưới biển mặc sức bắt ăn. Ta mập ra, yên thân lắm rồi. Ngặt nỗi nhớ đất liền không chịu nổi. Cây có cội nước có nguồn. Ngày ngày ta ra bờ biển nhìn muôn lớp sóng cồn, thấy tủi phận mình không bằng con chim đổ quyên đêm hè kêu khắc khoải.

Cho đến dịp có thằng Tây ra hòn do thám, ta nịnh nọt cho nó nước ngọt trái cây, nhờ nó cấp giấy đưa về đất liền. Thật là một chuyến đi nhớ đời, vui buồn lẫn lộn. Không thể nói hết nỗi vui mừng ta gặp được bà con. Tôi là người chạy giặc lâu ngày về thăm bà con đây, gặp ai ta cũng tay bắt mặt mừng. Có đi xa một chút, dù chỉ ra ngoài hòn biển nhà thôi, mới thấy nhớ tình làng nghĩa xóm, tình quê hương đất nước quí giá dường nào. Đầu tiên ta gặp Ông già xay lúa ngộ quá chừng, cùng ở hòn Cổ Tron với ta nhưng người ở đầu hòn người ở cuối hòn không biết nhau. Ông ta có nghề xay lúa gia truyền, đứng xay từ sáng tới mười giờ đêm không nghỉ tay, sắc mặt luôn tươi rói, ai cần cứ gọi cho vui cửa vui nhà. Gặp ông ta vui lắm, nhờ vô đất liền mới gặp được nhau. Ta hỏi ông xay lúa làm chi, ở ngoài hòn cần chi tiền bạc. Ông đáp xay lúa trước mua vui sau làm nghĩa, sẵn dịp vô thăm bà con, ôn nghề kẻo thất truyền. Ta chia tay Ông già xay lúa vui quá là vui, tiếp tục con đường ngao du thăm hỏi, biết thêm nhiều chuyện quê hương đất nước mình. Dạo xưa còn ở đất liền ta có nghe nói có Cây huê xà ở núi Cấm là vị thuốc độc nhất vô nhị trong các bài thuốc rắn. Ta muốn biết chuyện này lắm, những bài thuốc cứu người độ thế là vốn quí dân tộc. Ta về vùng Rạch Giá – Cà Mau, vùng đất có nhiều thầy rắn tài ba, dùng toàn thuốc Nam dễ kiếm như gừng, cỏ ống, vôi, trầu, nhựa ống điếu, trứng rệp… ở đó người ta nuôi rắn như vật nuôi nhà, nhà nào cũng có vài con rắn để bắt chuột, ngồi uống trà nhìn lên thấy con rắn nằm vắt ngang trên đòn dông nhà nhìn xuống gục gặc đầu. Đêm nào có trăng thì rắn đi ngao du, lên tận trên ngọn lá dừa để bắt chim trong ổ, hoặc rình mổ mấy con dơi rượt muỗi bay qua chớp nhoáng. Ta đi xa hơn, xuống tận rạch Thuồng Luồng tìm ông thầy nghe đồn có bùa bắt rắn, được Phật Thầy Tây An ở núi Sam truyền lại, với bài thuốc Cây huê xà nổi tiếng. Ta đến đó chứng kiến cảnh ông thầy đến hang rắn vỗ tay, bầy rắn lổn ngổn bò ra cúi đầu qui phục, đưa ngón tay trước miệng con rắn ngoẹo đầu không dám cắn. Ta nhìn thấy như vậy rồi ra đi. Sau nghe có chuyện hai ông thầy tranh tài để đôi trẻ hai bên vừa mới bén duyên đã chia lìa lâm nạn, một bài học cho thói đời tị hiềm sĩ diện.

Ta đi tiếp về miệt Xẻo Bần coi nghề của ông Bác vật xà-bông, qua Hòn Đá Bạc tìm hiểu chuyện Đảng Cánh Buồm Đen, nghe nói tay chúa đảng có ngọn roi Lưu Thủy thần sầu quỉ khóc, đường quyền che kín tên bắn không lọt. Hắn hỏi: “Ông là ai?”. Ta đáp: “Tôi là Từ Thông ở Hòn Cổ Tron”. Hắn lại hỏi: “Người tu hành ở ngoài hòn vô đây hỏi han thắc mắc cái gì?”. Ta đáp: “ở đâu cũng quê hương xứ sở mình. Tôi không thắc mắc, chỉ muốn tìm hiểu chuyện cướp sông cướp biển này là như thế nào?”. Hắn nói: “Ta là Tư Hiền. Muốn biết việc ta như thế nào hãy đến hỏi chuyện người này”. Ta đến hỏi chuyện một người tên Năm Bùn, mới biết chính người này mới là cướp, bị Tư Hiền qui phục, giao Đảng Cánh Buồm Đen cho Tư Hiền làm bình phong làm công việc đánh Tây. Ta yên tâm ra đi, từ miền duyên hải xuôi hướng Nam, vòng qua mủi Cà Mau, ngược lên đến rạch Cái Cau là ngọn sông Cái Lớn ăn qua địa phận tỉnh Cần Thơ. Xa rời chuyện cướp bóc biển cả sóng cồn, ta đi vào vùng nước bạc mát lành, đổ tuôn ra Rạch Giá, mang mấy giề lục bình lá xanh bông tím trôi phiêu lưu từ sông Hậu Giang ra ngoài khơi vịnh Xiêm La xa thẳm. Sông rạch thông thương, vàm Cái Cau nhà cửa đông đúc. Ta đi thảnh thơi không màng dòm ngó. Ông hương ấp là ai cũng không cần biết. Chỉ mong được nghe giọng hát của Con Bảy đưa đò, nghe đồn vừa xa lạ vừa quen thân, ấm áp. Khi cất lên thì cao hơn tầm của con cò con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh, lúc trầm xuống thì như hơi gió xao động dòng sông, làm rung mặt nước khi thuyền đã xa khuất trong lớp mù sương mờ ảo, khách ngẩn ngơ nhìn theo không thấy gì nữa, tâm trí bâng khuâng giữa cảnh sông rạch âm u, “nhánh bần gie con đom đóm đậu sáng ngời”. Ta nghe được tiếng hát đó, trong đêm có “nhánh bần gie con đom đóm đậu sáng ngời”, một lần trong đời không thể nào quên. Ta tiếp tục ra đi lòng dạ yên bình, biết mình có được tiếng hát đem theo đến hết đời. Sau đó ta nghe nàng gắn bó với một chàng tráng sĩ, chuyện không thành chàng ra đi nàng vẫn đợi, như thông thường mọi chuyện tình trên thế gian. Nhiều năm sau gặp lại “con Bảy đưa đò” thành “dì Bảy luộc lòng heo”, ta cũng không lấy đó làm điều phiền lòng. Ta không bận tâm lắm đến những chuyện như vậy. Cũng như chuyện ông hương Cả nhà ở Bình Thủy – Cần Thơ gả con gái về dưới Cạnh Đền – Cà Mau. Ta có dự đám gả, cả nhà khóc như có tang. Cũng vẫn là chuyện bèo giạt mây trôi vậy thôi. Ta đi qua mau, không có thời giờ. Nghe nói chùa Sóc Ven ở Rạch Giá của lục cụ Tăng Liên đào được Chiếc ghe ngo cổ lắm, hàng mấy trăm năm. Ta vội đến đó ngay. Ghe ngo là hiện thân của rắn thần Naga, linh hiển lắm. Hồi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng, mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hóa được rắn Na ga là thần ác. Rắn quấn tròn chung quanh, ngẩng đầu lên cao để che mưa gió cho đức Thích Ca. Từ đó về sau người Miên khoét thân cây sao theo hình rắn, hằng năm bơi đua trên sông để mừng mùa nước nổi. Ta ăn uống trên đường, có hôm vừa đi vừa nhai khoai lang sống, đến nơi nước vừa dâng cao, mùa đua ghe ngo sắp bắt đầu. Năm nào ghe chùa Sóc Ven cũng dự đua và được thứ hạng cao, không ít lần được giải nhất. Năm nay nhà nước Tây đứng ra tổ chức đua. Ta được lục cụ Tăng Liên dẫn đi coi chiếc ghe ngo cổ vừa mới đào được, chưa vội nói cho ai biết, thời buổi nhiễu nhương không biết như thế nào. Ngày đua ghe đã đến, lục cụ phân vân mãi. Không đua thì mất mặt với làng xóm, đua cho nhà nước Tây được thưởng càng nhục hơn. Nhưng đành phải đua. Ghe chùa Sóc Ven được giải nhứt! Nhìn chú tiểu đem phần thưởng là lá cờ ba màu về chùa, lục cụ nghẹn ngào tủi nhục, bỏ cơm mấy ngày liền, ta khuyên bảo thế nào cũng không được. Mấy hôm sau giữa đêm lục cụ đánh thức ta dậy, hai người đi đến chỗ chiếc ghe cổ. “Lấp lại đi”, cụ nói. Hai người hì hục đào đất lấp lại. “Để khỏi bận hồn người xưa”, lục cụ nói. Ta thấy cũng phải. Nay mai rồi chiếc ghe ngo của chùa này cũng thành cổ vật thôi.

Năm đó ta đã già lắm rồi, còn bao nhiêu chuyện phải chứng kiến tận mắt, nghe tận tai. Ta đi băng đồng về vùng Bảy Núi mong được một lần nhìn thấy cảnh Mùa len trâu hùng vĩ, trâu lội nước năm ba trăm con, đen đầu, đặc nước. Đếm bạc trăm là dễ chớ muốn thấy được cảnh đó không phải dễ, giống như hồi thiên hạ sơ khai, càn khôn hổn độn… Mấy ông thầy chùa, bà vải ẩn mình trong cốc trên núi, chán cảnh trần tục vậy mà họ còn bước ra ngóng mắt theo bầy trâu len dữ dội… Ta có người quen ở đó, vợ chồng chú thiếm Tư năm nào cũng gởi đôi trâu cho đám tằng khạo đi len trên Bảy Núi. Ta dự định sẽ đi theo đó. Nhưng đến nơi vợ chồng chú thiếm Tư đã gởi đôi trâu đi rồi, cho thằng Nhi đứa con mới lớn đi theo tập tành chuyện đồng nước. Ta ở lại chơi với vợ chồng chú thiếm Tư, sáng chiều ngồi trên sàn nhà ngắm cảnh đồng nước bao la. Nếu có cái gì đó đọng lại lâu dài hàng trăm năm trong trí não ta, ấy là hình ảnh quê hương đồng nước nổi. Giờ này, dưới đáy nước, sát mặt ruộng, mớ đất cày mềm nhũn, trở mình dậy men thành bùn non, mớm hơi sức cho rễ lúa trắng phau. Gió thổi mạnh trôi nhà trôi cửa nhưng lúa non lì gan hứng chịu. Cứ qua ngày đêm, nước ngập lên một tấc, thân lúa đuối sức cố nằm dài trên mặt nước vừa hấp hối ngộp thở là nhánh non nứt ra trong nháy mắt để chào đón cuộc sống…

Nhưng yên ấm dài lâu không phải là mục đích của đời ta. Dấn thân vào chốn gian lao mới là điều ta mong mỏi. Ta nghe giặc Tây đóng binh ở ngoài huyện Kiên Giang, binh sĩ Nguyễn Trung Trực lén kéo về châu thành công kích. Ta đến nơi trận đánh vừa xong, đồng nước sóng gợn lăn tăn, bông điên điển nở vàng bên trên, bên dưới xương cốt chất đầy hết lớp này tới lớp khác. Ta đến Miễu Bà Chúa Xứ đốt nén hương tưởng niệm những người đã khuất. Tên Miễu Bà Chúa Xứ là do dân làng đặt ra để che mắt giặc, thật ra là đền thờ chiến sĩ trận vong. Ta đi tiếp, theo một chiếc xuồng lẻ loi giữa đồng. Đứa nhỏ chở người cha đang hấp hối đi tìm nơi chôn cất. Họ là ai, từ đâu tới, đi về đâu? Không ai biết. Đồng nước không có bắt đầu, không có kết thúc. Bầy trâu vô số kể đang lặn hụp. Trâu quậy, sóng nước chuyển nghe đùng đùng. Hơi trâu thở khì khì như cây rừng khi nổi gió. Hằng trăm cặp sừng cong vút, nhọn lễu như những trái ấu khổng lồ. Đó là bầy trâu đang len phía sau. Phía trước nước ngập tràn không có đâu là bến bờ. Một cuộc biển dâu, người chết nhiều hơn người sống! Người cha thấy cái chết đã gần kề rồi, khoát tay cho xuồng dừng lại, cởi chiếc áo đang mặc đưa cho con: “Ta để lại cho con chiếc áo này”. Xứ sở nghèo nàn, một chiếc áo cũng là gia sản. Xuồng tiếp tục đi giữa trời nước mênh mông. Một chiếc xuồng, một đứa nhỏ, một xác người. Chôn ở đâu? Nhưng rồi vẫn có xóm làng đùm bọc nhau. Một căn chòi hiện ra chênh vênh trên sóng nước, có chiếc cối đá là vật quí, cũng là vật có thể neo chôn. Tất cả được giải quyết nhanh chóng, trong lặng lẽ, người chết được neo lại, thịt da rã ra xương cốt chìm xuống đáy sâu. Đứa con tiếp tục ra đi, hướng về chân trời vô định. Ta trở về với Hòn Cổ Tron giữa biển khơi muôn trùng sóng vỗ, làm bạn với những con mòng biển và rùa biển, lần tràng hạt đếm ngày tháng trôi qua…

Một cuộc biển dâu!

Nhưng ta vẫn có điều chưa yên. Vẫn nhớ ngươi còn đang ở thành phố, bươn chải với công danh chật chội, ngày đêm nhớ về quê vẫn chưa dứt ra được. Năm tháng trôi qua, ngươi quên đi nhiều những rừng đước rừng mắm, những chang đước như những chiếc nơm khổng lồ, con kinh xẻo đất, cánh đồng năng lát, con cá thòi lòi lội trên bãi bùn, đáy sông và đáy hàng khơi... Sống làm sao được mấy chục năm ròng không nhìn thấy ổ chim dòng dọc trên ngọn cây bần, nghe tiếng nước chảy, tiếng lúa reo, con cò trắng đậu trên lưng trâu? Ta về đây đợi ngươi lâu lắm rồi, biết thế nào ngươi cũng đến, nghe ta kể đôi chuyện nhắc nhở đôi điều. Rồi ta sẽ trở về Hòn Cổ Tron của ta ngồi yên tâm tụng niệm, cho đến lúc thành đá thành cát. Rồi ngươi cũng vậy thôi, cũng sẽ trở về. Trời đất xoay vần, cuộc đời trần thế là một cuộc biển dâu!..

Theo hoinhavanvietnam.vn

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm