Về phương diện pháp lý có thể hiểu, tình trạng khẩn cấp là hoàn cảnh thực tế do con người hoặc tự nhiên gây ra nhưng có khả năng đe dọa đến an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống chính trị, pháp lý, kinh tế-xã hội của quốc gia đó như bạo loạn, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, nội chiến, bị quốc gia khác tuyên chiến hoặc sự cố bất kháng về rò rỉ phóng xạ hoặc do thiên tai, thảm họa tự nhiên như động đất, sóng thần, bão lụt...
Khi nào ban bố?
Khi xảy ra tình trạng thực tế có khả năng đe dọa đến an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội, nhà nước có thể ban bố tình trạng khẩn cấp nhằm đối phó nhanh nhất và hiệu quả nhất để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại.
Muốn thực hiện có hiệu quả tuyên bố tình trạng khẩn cấp, nhà nước có thể tạm ngưng một số chức năng hoạt động bình thường của chính phủ, của các cơ quan nhà nước cũng như một số quyền tự do dân sự của công dân.
Nhà nước cũng có thể cảnh báo công dân, tổ chức, pháp nhân trên toàn lãnh thổ hoặc một khu vực lãnh thổ nhất định phải thay đổi các hành vi bình thường. Hoặc nhà nước có thể ra lệnh cho các cơ quan của chính phủ thi hành các biện pháp, phương án riêng để đối phó với tình trạng này.
Trong một số trường hợp đặc biệt, nhà nước có thể ra lệnh thiết quân luật và trao quyền duy trì tình trạng khẩn cấp cho quân đội. Lúc đó, những trường hợp vi phạm có thể bị tống giam hoặc bị bắn tại chỗ mà không cần lệnh của cơ quan có thẩm quyền.

Do lốc xoáy ở bang Alabama, ngày 28-4, Tổng thống Obama đã ban bố tình trạng khẩn cấp. Ảnh: REUTERS
Ai được ban bố?
Tùy vào quy định pháp luật của từng quốc gia mà các điều kiện, hoàn cảnh, thủ tục, thẩm quyền để nhà nước hoặc chính phủ ra tuyên bố về tình trạng khẩn cấp được quy định trong hiến pháp hoặc trong luật về tình trạng khẩn cấp.
Trên thực tế, tình trạng khẩn cấp có thể được ban bố bằng tuyên bố nhân danh nhà nước (do quốc vương, tổng thống) hoặc tuyên bố nhân danh chính phủ (chính phủ hoặc thủ tướng).
Ví dụ theo luật của Mỹ, Nga, Syria, Yemen, người ban bố tình trạng khẩn cấp là tổng thống, luật của Bahrain quy định là quốc vương, luật của Nhật và New Zealand là thủ tướng. Còn theo luật của Thái Lan là chính phủ.
Tuyên bố về tình trạng khẩn cấp sẽ có hiệu lực thi hành đến khi các điều kiện, hoàn cảnh thực tế gây ra tình trạng khẩn cấp không còn nữa.
Trong trường hợp đặc biệt, một số quốc gia như Syria, Ai Cập đã ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp. Ai Cập đã ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp cấp thiết từ năm 1981 sau khi Tổng thống Anouar el-Sadate bị ám sát đến khi chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak sụp đổ hồi tháng 2 mới rồi.
| Bahrain: Ngày 8-5, chính phủ thông báo từ ngày 1-6 sẽ dở bỏ tình trạng khẩn cấp. Ngày 15-3, Quốc vương Hamad bin Isa Al Khalifa đã ban bố tình trạng khẩn cấp trong ba tháng sau khi quân đội các nước vùng Vịnh đến hỗ trợ Bahrain ngăn chặn biểu tình chống chính phủ. Algeria: Ngày 24-2, Tổng thống Abdelaziz Bouteflika tuyên bố dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp áp dụng từ ngày 9-2-1992 để chống phiến quân Hồi giáo. Yemen: Ngày 18-3, Tổng thống Ali Abdullah Saleh ban bố tình trạng khẩn cấp sau khi cảnh sát và người biểu tình đụng độ. Pakistan: Ngày 3-11-2007, Tổng thống Pervez Musharraf ban bố tình trạng khẩn cấp nhằm ngăn chặn các vụ đánh bom tự sát. Tình trạng khẩn cấp đã được dỡ bỏ ngày 15-12-2007 sau khi ông từ chức tổng tư lệnh. Hy Lạp: Ngày 25-8-2007, Thủ tướng Costas Karamanlis ban bố tình trạng khẩn cấp do cháy rừng. Ba ngày sau, tình trạng khẩn cấp được dở bỏ. Nhật: Từ ngày 11-3 đến nay, Nhật vẫn còn trong tình trạng khẩn cấp do động đất 8,9 độ Richter dẫn đến sóng thần. KHÁNH UYÊN (Theo AFP, BBC, Wikipedia) ______________________________________ 6,3 độ Richter là cường độ động đất ở New Zealand ngày 22-2. Cùng ngày, Thủ tướng John Key đã ban bố tình trạng khẩn cấp tại TP Christchurch và TP Wellington. Hôm sau, Bộ trưởng Phòng vệ Dân sự John Carter đã mở rộng tình trạng khẩn cấp trên cả nước. Ngày 7-3, tình trạng khẩn cấp được gia hạn thêm bảy ngày. |
Ths NGÔ HỮU PHƯỚC (Trưởng bộ môn Công pháp quốc tế, ĐH Luật TP.HCM)
HỒNG TÚ ghi