Hai tuần xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế toàn cầu, trong đó thị trường dầu mỏ là lĩnh vực chịu tác động lớn nhất khi vùng Vịnh - “rốn dầu” của thế giới - trở thành tâm điểm của các đợt tấn công.
Áp lực kinh tế từ cuộc chiến
Tuần trước, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã công bố đợt xả dầu từ kho dự trữ trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông leo thang, gây ra sự gián đoạn nguồn cung lớn nhất trong lịch sử thị trường dầu mỏ toàn cầu.
IAE cho biết sẽ giải phóng 400 triệu thùng dầu thô khẩn cấp - tương đương 1/3 tổng lượng dầu trong kho dự trữ của 32 chính phủ thuộc tổ chức này. Các quốc gia thành viên IEA đã bắt đầu công bố kế hoạch xả kho dầu.
Mỹ thông báo sẽ giải phóng 172 triệu thùng dầu từ kho dự trữ chiến lược như một phần trong kế hoạch chung của IEA. Canada ngày 13-3 cho biết nước này dự kiến đóng góp 23,6 triệu thùng dầu trong đợt xả kho lần này của IEA.
Tuy nhiên, việc IEA công bố xả kho dầu dự trữ không đủ để hạ giá dầu toàn cầu. Sau thông tin từ IEA, giá dầu chốt phiên tăng vẫn gần 5% trong ngày 11-3 do lo ngại gián đoạn nguồn cung.
Theo các chuyên gia, dù có nguồn cung bổ sung, ảnh hưởng từ những tuyên bố mới nhất của chính quyền Mỹ hoặc từ các diễn biến thực tế tại Trung Đông cũng vẫn tác động đến giá dầu. Chẳng hạn, hôm 13-3, sau thông tin Mỹ dự định điều thêm tàu chiến cùng lực lượng Thủy quân lục chiến tới Trung Đông, giá dầu đã tăng thêm 3%, lên trên mốc 100 USD/thùng, tờ The Wall Street Journal đưa tin.
Những tác động kinh tế của cuộc chiến đã bắt đầu làm rung chuyển thế giới. Chỉ riêng nhận thức về tình trạng bất ổn kéo dài tại vùng Vịnh cũng có thể lan rộng qua các chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng giá nhiên liệu, kỳ vọng lạm phát và các thị trường tài chính.
Song song đó, chiến sự ở Trung Đông cũng đang tạo ra áp lực lớn đối với nền kinh tế Mỹ.
Cuộc chiến đã khiến giá xăng tại Mỹ tăng lên. Ông Patrick DeHaan, người phụ trách phân tích dầu mỏ của ứng dụng GasBuddy, cho biết giá xăng trung bình trên toàn nước Mỹ tính đến ngày 11-3 là 3,59 USD mỗi gallon (0,95 USD mỗi lít), tăng 65 cent so với tháng 2. Ông DeHaan nói rằng nếu xung đột kết thúc, giá xăng có thể giảm trong vòng vài tuần nhưng “mỗi tuần chiến sự tiếp diễn, giá có thể tăng thêm 25-40 cent”.
Khi chiến tranh tiếp diễn, giá nhiều hàng hóa tiêu dùng cũng sẽ tăng theo.
GS Robert Rogowsky tại ĐH Georgetown (Mỹ) cho rằng những người có thu nhập thấp đặc biệt sẽ phải trả giá cho làn sóng tăng giá này.
Ông Peter Sand, nhà phân tích trưởng của nền tảng dữ liệu vận tải Xeneta, cho biết tình trạng ùn tắc tại eo biển Hormuz đã gây tắc nghẽn tại nhiều cảng trên thế giới. Theo ông, trong ngắn hạn, người tiêu dùng chưa cảm nhận rõ tác động nhưng nếu xung đột kéo dài khoảng một tháng, một số hàng hóa sẽ bị trì hoãn giao hàng, “và tất nhiên giá của những hàng hóa đó cũng sẽ tăng”.
Chính quyền Tổng thống Trump ước tính rằng 6 ngày đầu tiên của cuộc chiến với Iran đã khiến Mỹ tiêu tốn ít nhất 11,3 tỉ USD, theo hãng tin Reuters. Con số này chưa tính hết toàn bộ chi phí của cuộc chiến. Khả năng Nhà Trắng sẽ sớm đề nghị quốc hội cấp thêm ngân sách cho cuộc chiến, có thể lên tới 50 tỉ USD thậm chí nhiều hơn.
Lửa chiến sự Trung Đông có sớm tắt?
Theo giới quan sát, các biện pháp như xả kho dự trữ, điều chỉnh thuế nhiên liệu, xét lại các chính sách xuất khẩu đối với dầu mỏ và năng lượng,.. hay thậm chí hộ tống tàu thuyền qua eo biển Hormuz chỉ là giải pháp tạm thời. Cách nhanh chóng và hiệu quả nhất để ổn định thị trường dầu mỏ là chấm dứt chiến sự ở Trung Đông.
Tuy nhiên, đến nay, các bên chưa cho thấy cuộc chiến sẽ sớm kết thúc.
Hãng Reuters ngày 14-3 dẫn 3 nguồn tin rằng chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bác bỏ các nỗ lực của những đồng minh Trung Đông nhằm khởi động đàm phán ngoại giao để chấm dứt cuộc chiến.
Ngay từ đầu, ông Trump đã tuyên bố cuộc chiến sẽ không kết thúc nhanh chóng. Khi công bố chiến dịch quân sự ở Iran, ông Trump đã nói về khả năng Mỹ có thương vong; vài ngày sau, ông nhận định cuộc chiến có thể kéo dài “4 đến 5 tuần”, và nếu cần thiết thì “còn lâu hơn nữa”.
Gần đây, trả lời phỏng vấn trang Axios, nhà lãnh đạo Mỹ nói rằng cuộc chiến sẽ sớm kết thúc, đồng thời nói thêm: “Bất cứ lúc nào tôi muốn nó kết thúc, nó sẽ kết thúc”. Tuy nhiên, đài CNN dẫn nhận định của giới quan sát rằng những tuyên bố của ông Trump về việc chiến tranh sớm chấm dứt “có thể mang tính tín hiệu chính trị nhiều hơn là đánh giá thực tế về tình hình quân sự”.
Về phần mình, Iran cũng bác bỏ khả năng ngừng bắn cho đến khi các cuộc không kích của Mỹ và Israel chấm dứt.
Ông Mohsen Rezaee - cựu Tư lệnh Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) và hiện là Thư ký Hội đồng Phân định Lợi ích Quốc gia Iran - tuyên bố rằng việc chấm dứt chiến tranh nằm trong tay Tehran, đài RT đưa tin ngày 14-3.
“Việc chấm dứt cuộc chiến nằm trong tay chúng ta. Chúng tôi chỉ tính đến việc kết thúc chiến tranh khi thu hồi toàn bộ những tổn thất từ Mỹ (tức yêu cầu Mỹ bồi thường đầy đủ - RT). Thứ hai, chúng tôi phải đạt được sự bảo đảm 100% cho tương lai, điều không thể có nếu Mỹ không rút khỏi Vịnh Ba Tư” - ông Rezaee nói.
Giới quan sát nhận định rằng Iran đang cho thấy một sự kiên cường đáng chú ý trong cuộc chiến lần này.
Theo CNN, Cộng hòa Hồi giáo đã không suy sụp sau khi Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei thiệt mạng mà nhanh chóng thực hiện lộ trình chuyển giao quyền lực tạm thời theo hiến pháp và sau đó kiên quyết lựa chọn con trai của vị lãnh tụ vừa thiệt mạng làm Lãnh tụ Tối cao mới.
IRGC và quân đội Iran thể hiện khả năng chống chịu trước một cuộc chiến với các đối thủ mạnh hơn nhiều.
Do đó, theo các nhà phân tích, những điều kiện thường dẫn đến các cuộc chiến ngắn - ưu thế quân sự mang tính quyết định, một đối thủ sẵn sàng đàm phán và một mục tiêu chính trị rõ ràng cho giai đoạn kết thúc - đều vắng bóng rõ rệt trong cuộc xung đột này.
Iran xuất khẩu dầu nhiều hơn so với trước chiến sự
Iran đang xuất khẩu nhiều dầu mỏ qua eo biển Hormuz hơn so với trước khi chiến tranh nổ ra, cho thấy nước này vẫn kiểm soát tuyến đường thủy chiến lược mà Tehran đã đóng lại đối với các nhà sản xuất dầu mỏ khác trong khu vực, Wall Street Journal đưa tin ngày 10-3.
Trong khi các nhà sản xuất dầu mỏ vùng Vịnh, từ Saudi Arabia đến Iraq, cắt giảm sản lượng và vội vã tìm các tuyến vận chuyển mới để tránh đi qua eo biển này, Iran vẫn duy trì hoạt động kinh doanh như bình thường.
Dữ liệu của công ty theo dõi tàu chở dầu Kpler cho thấy Iran vẫn duy trì hoạt động xuất khẩu như bình thường. Điều này mang lại nguồn hỗ trợ tài chính quan trọng cho Tehran trong lúc nước này hứng chịu các đợt tấn công dữ dội từ Mỹ và Israel.
Theo Kpler, kể từ khi chiến tranh bắt đầu vào ngày 28-2, đã có 7 tàu chở dầu bốc hàng ngoài khơi bờ biển Iran. Công ty này cho biết ít nhất 2 chuyến bốc hàng gần đây nhất xuất phát từ Vịnh Ba Tư. Trong tuần từ ngày 4 đến 10-3, các tàu chở dầu đã bốc trung bình 2,1 triệu thùng dầu Iran mỗi ngày, cao hơn mức 2 triệu thùng/ngày mà Iran xuất khẩu trong tháng 2, theo dữ liệu của Kpler.
Mức xuất khẩu của Iran có thể biến động theo từng tuần, nhưng sự gia tăng gần đây cho thấy, không giống các nhà sản xuất khác, các chuyến hàng của Iran này không bị cản trở và Trung Quốc vẫn duy trì nhu cầu đối với dầu thô từ Tehran.