Vụ bà chủ nhà thuốc Mỹ Châu được giảm 13 năm tù: Giải mã dưới góc nhìn pháp lý

(PLO)- ​Vụ bà Mỹ Châu, trong trường hợp vẫn tuyên bị cáo phạm tội nhưng giảm án sâu, tòa sẽ lập luận dựa trên sự chuyển hóa từ chế định miễn trách nhiệm sang chế định giảm nhẹ hình phạt theo Điều 51 và 54 BLHS.

Chiều 2-2, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xét xử phúc thẩm vụ án ca sĩ Quốc Kháng lừa đảo 7 tỉ đồng tiền “chạy án”. HĐXX cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Lê Thị Mỹ Châu (chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Mỹ Châu Pharmacy Group - nhà thuốc Mỹ Châu) từ 17 năm tù xuống còn 4 năm tù về tội đưa hối lộ.

Theo HĐXX, việc tòa cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bà Châu về tội đưa hối lộ là đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên mức hình phạt có phần nghiêm khắc.

HĐXX đã áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Châu đã chủ động khai báo hành vi sai phạm trước khi bị phát giác, đủ điều kiện áp dụng khoản 7 Điều 364 BLHS nhằm thể hiện chính sách khoan hồng.

Từ vụ án này, nhiều bạn đọc thắc mắc về việc để được giảm án sâu như trường hợp bà Châu, bị cáo cần đáp ứng các điều kiện gì.

Bị cáo Lê Thị Mỹ Châu tại phiên tòa sơ thẩm. Ảnh: SONG MAI

Phân hóa trách nhiệm

​Xét về chính sách hình sự, xử lý nghiêm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là phù hợp vì hành vi này xâm hại trực tiếp đến quan hệ sở hữu, thể hiện rõ mục đích chiếm đoạt và thường gây hệ lụy xã hội đáng kể. Ngược lại, đối với nhóm tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, pháp luật hình sự đặt trọng tâm vào việc khuyến khích người liên quan khai báo, hợp tác, nhằm nâng cao khả năng phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm, nhất là trong các tình huống “chạy việc, chạy án” vốn khó chứng minh nếu thiếu thông tin từ người trong cuộc. Trường hợp bị cáo thay đổi nhận thức, thừa nhận hành vi, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và các yếu tố nhân thân là những dữ kiện có thể được cân nhắc khi cá thể hóa hình phạt.

Thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng thường phân tích rõ tính tương xứng giữa lợi ích mà bị cáo cung cấp với mức độ khoan hồng được hưởng. Khoản 7 Điều 364 BLHS quy định về việc miễn trách nhiệm hình sự cho người chủ động khai báo trước khi bị phát giác, điều này đóng vai trò là "chìa khóa" mở ra các mắt xích quan trọng trong các vụ án tham nhũng phức tạp. ​Trong trường hợp vẫn tuyên bị cáo phạm tội nhưng giảm án sâu, tòa sẽ lập luận dựa trên sự chuyển hóa từ chế định miễn trách nhiệm sang chế định giảm nhẹ hình phạt theo Điều 51 và 54 BLHS.

Khoản 7 Điều 364 BLHS quy định hai trường hợp: (i) Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì “được coi là không có tội” và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ; (ii) người đưa hối lộ không bị ép buộc nhưng chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì “có thể được miễn trách nhiệm hình sự” và được xem xét trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Điểm mấu chốt nằm ở điều kiện “chủ động khai báo trước khi bị phát giác” và hệ quả pháp lý tương ứng theo từng trường hợp.

Thạc sĩ Lê Bá Đức

Khoản 7 Điều 364 BLHS không phải là căn cứ lượng hình theo nghĩa “tình tiết giảm nhẹ” hoặc “tình tiết định khung”; đây là quy phạm đặc thù quy định về trường hợp được coi là không có tội khi bị ép buộc đưa hối lộ và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi không bị ép buộc nhưng đáp ứng điều kiện luật định. Do đó, nếu tòa án vẫn tuyên bị cáo phạm tội và áp dụng hình phạt tù thì phần nhận định phải lý giải rõ: Vì sao bị cáo không đủ điều kiện để miễn; đồng thời việc xem xét khoan hồng (nếu có) chỉ được đặt trong việc quyết định hình phạt.

Từ quy định nêu trên, có thể thấy “nếu đã đủ điều kiện để có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 7 Điều 364 BLHS thì không thể đồng thời tuyên hình phạt tù”.

Trường hợp áp dụng khoản 7 Điều 364 BLHS

Có trường hợp bị cáo có căn cứ để xem xét “có thể được miễn trách nhiệm hình sự” nhưng tòa án không chấp nhận miễn bởi thuật ngữ “có thể” thể hiện tính không bắt buộc. Khi đó, tòa án có quyền cân nhắc trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vai trò của bị cáo, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu phòng ngừa chung. Tuy nhiên, nếu tòa án lựa chọn không miễn trách nhiệm hình sự thì bản án phải thể hiện rõ lý do không áp dụng miễn; đồng thời ghi nhận và đánh giá các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS và áp dụng Điều 54 BLHS khi đáp ứng điều kiện luật định.

Khi quyết định hình phạt, nếu tòa án đã xác định bị cáo phạm tội và tuyên hình phạt tù thì việc giảm hình phạt phải dựa trên các căn cứ lượng hình của BLHS. Theo Điều 54 BLHS, tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong những trường hợp luật định, điển hình là khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; đồng thời Điều 54 BLHS cũng dự liệu các tình huống đặc biệt khác và đặt ra yêu cầu ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

Các trường hợp được miễn TNHS

Theo BLHS hiện hành, miễn trách nhiệm hình sự không chỉ được quy định tại Điều 29 ở phần chung mà còn được ghi nhận tại một số điều luật thuộc phần các tội phạm như tội gián điệp (khoản 4 Điều 110), tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loài cây khác có chứa chất ma túy (khoản 4 Điều 247), tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 7 Điều 364), tội môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 365) và tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 390).

Trong đó, khoản 7 Điều 364 BLHS là căn cứ làm phát sinh khả năng miễn trách nhiệm hình sự hoặc loại trừ tội phạm trong trường hợp bị ép buộc, chứ không phải là tình tiết định khung hay tình tiết giảm nhẹ dùng để lượng hình theo nghĩa trực tiếp.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới