Bỏ trốn hơn 14 năm vẫn không hết thời hiệu thi hành án, vì sao?

(PLO)- TAND Tối cao đã giải đáp nhiều tình huống phát sinh trong xét xử hình sự, từ giới hạn xét xử phúc thẩm đến việc phạm nhân bỏ trốn hơn 14 năm không được hưởng thời hiệu thi hành án.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

TAND Tối cao vừa ban hành Công văn 250, thông báo kết quả giải đáp trực tuyến nhiều vướng mắc trong công tác xét xử.

IMG_1622.jpeg
Một phiên tòa hình sự tại TP.HCM. Ảnh minh họa: HOÀNG GIANG

Làm rõ việc áp dụng thời hiệu thi hành án

Một trong những nội dung được quan tâm là việc áp dụng tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” tại khoản 1 Điều 306 BLHS

Câu hỏi đặt ra tình tiết này chỉ được áp dụng cho khoản 1 Điều 306 BLHS hay được áp dụng cho tất cả các khoản khác tại Điều 306?

TAND Tối cao cho biết trường hợp nêu trên, hậu quả, quy mô của hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 BLHS.

Trong khi đó, tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 BLHS không gắn với hậu quả, quy mô tội phạm để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306.

Như vậy, tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 là độc lập, không bắt buộc phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 306 mới được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Một vướng mắc khác liên quan đến thời hiệu thi hành án đối với người bỏ trốn khỏi nơi giam giữ.

Tình huống được nêu là Nguyễn Văn A bị xử phạt 5 năm tù về tội giết người, chấp hành hình phạt tù trong trại giam được hơn 2 năm thì bỏ trốn khỏi nơi giam, cơ quan có thẩm quyền không ra lệnh truy nã ngay mà hơn 14 năm sau mới ra lệnh truy nã, đến nay vẫn chưa bắt được. Trường hợp này A có được hưởng thời hiệu thi hành án hay không?

Theo TAND Tối cao, khoản 1 Điều 60 BLHS quy định thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

Trường hợp này, A đã thi hành bản án được hơn 2 năm thì bỏ trốn, nên phải xác định A là người đang chấp hành án, mà không phải là chưa chấp hành bản án (hoặc đã được hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù) để xem xét có được hưởng thời hiệu thi hành án hay không.

Hơn nữa, người chấp hành án buộc phải biết việc chấp hành bản án của Tòa án. Do đó, trường hợp này A không được hưởng thời hiệu thi hành bản án.

Liên quan trường hợp người đang chấp hành án tù bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quyết định của Tòa án mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù vẫn chưa khỏi bệnh thì Tòa án giải quyết như thế nào?

Theo TAND Tối cao cho biết theo khoản 3 Điều 49 BLHS, người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh... Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Như vậy, trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quyết định của Tòa án mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù vẫn chưa khỏi bệnh thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Nếu đến thời điểm hết thời hạn chấp hành án phạt tù, người đó vẫn chưa khỏi bệnh thì Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 44 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Không xử tăng nặng nếu chỉ có kháng cáo xin giảm án

TAND Tối cao cũng giải đáp nhiều tình huống liên quan đến giới hạn xét xử phúc thẩm và thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Theo đó, có trường hợp vụ án có nhiều bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm, một số bị cáo không kháng cáo và bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với bị cáo này. Một số bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt.

Câu hỏi được đặt ra là khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy toàn bộ bản án sơ thẩm (bao gồm cả phần bản án có hiệu lực) để điều tra, xét xử lại theo hướng tăng nặng hay không?

TAND Tối cao viện dẫn khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khi có kháng nghị của VKS, kháng cáo của bị hại thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể: Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của BLHS về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp; Tăng mức bồi thường thiệt hại; Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; Không cho bị cáo hưởng án treo.

Đối với trường hợp này, vụ án chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo của bị hại, kháng nghị của VKS.

Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền hủy toàn bộ bản án sơ thẩm (bao gồm cả phần bản án có hiệu lực) để điều tra, xét xử lại theo hướng tăng nặng mà kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngoài ra, TAND Tối cao cũng giải đáp tình huống TAND khu vực xét xử sơ thẩm đối với 3 bị cáo nhưng chỉ có 1 bị cáo đầu vụ có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt (2 bị cáo không có kháng cáo).

Khi xét xử phúc thẩm, do vụ án không có kháng nghị của VKS, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo và nhận định Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt cho bị cáo có phần nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.

Do đó, để không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Đặt ra vấn đề, trong trường hợp này, Chánh án TAND cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm của TAND khu vực theo hướng tăng mức hình phạt đối với cả 3 bị cáo hay không?

TAND Tối cao cho biết đối với bản án phúc thẩm đã tuyên đối với 1 bị cáo thì người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao theo quy định tại khoản 1 Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự (đã được sửa đổi, bổ một một số điều năm 2025).

Đối với bản án sơ thẩm đã tuyên đối với 2 bị cáo còn lại không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật thì người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có thể là Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao theo quy định tại khoản 1 Điều 373 của Bộ luật Tố tụng hình sự khi xét thấy cần thiết hoặc Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp nêu trên, nếu Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án sơ thẩm sẽ không có thẩm quyền xem xét đối với bản án phúc thẩm đã tuyên đối với bị cáo có kháng cáo.

Do đó, để bảo đảm tính khách quan, toàn diện khi giải quyết vụ án, trường hợp này Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm, bản án sơ thẩm và căn cứ khoản 5 Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm