Ông đã công bố 3 tập thơ châm biếm, một tập truyện thơ và một số tập ca dao.

Tôi có may mắn được gần gũi nhà thơ Thợ Rèn trong nhiều năm, thời gian đầu là dưới quyền, sau đó thành anh em thân quí, như là kết bạn vong niên và có quan hệ qua lại cả hai gia đình.
Từ năm 1956, báo Nhân Dân ra hằng ngày là bắt đầu có chuyên mục Chuyện lớn... Chuyện nhỏ... (CLCN). Trước đó, báo Nhân Dân có chuyên mục Thuốc đắng dã tật (TĐDT). Bác Hồ đã cho đăng một số bài ở chuyên mục này, dạng tiểu phẩm văn xuôi phê bình nội bộ nhân dân, ký hai bút danh XYZ và CB. Cũng có thể nói rằng TĐDT là tiền thân của CLCN. Khi Bác gửi bài đăng ở chuyên mục TĐDT, Người khuyên báo Nhân Dân, đại ý: “Bài đúng nhưng phải hay. Các chú làm chưa hay. Các chú phải như văn công, vừa có thanh vừa có sắc, biết múa hát. Đánh địch thì dễ, phê bình nội bộ khó lắm”.
Đầu năm 1955, Tổng biên tập Hoàng Tùng bàn bạc với Như Phong và Phạm Lê Văn mở chuyên mục thơ châm biếm (Phạm Lê Văn cũng là bút danh của cùng một người, xuất hiện trước bút danh Thợ Rèn). Sau đó, Thép Mới cũng được mời tham gia. Buổi họp thứ hai diễn ra. Bây giờ đặt tên cho chuyên mục thế nào đây? Các báo đã và đang có chuyên mục mang nội dung đả kích địch, với những tên gọi: Đòn bút, Đánh mấy vần, Lột mặt nạ, v.v... Báo Nhân Dân hướng về việc phê bình nội bộ nhân dân, thì phải chọn tên khác. Hay là Thuốc đắng dã tật (dùng lại tên chuyên mục đang có), Lạt mềm buộc chặt, To nhỏ bảo nhau, Đầu làng cuối xóm?... Cuối cùng, Như Phong thốt ra: “Chuyện to, chuyện nhỏ!” Phạm Lê Văn đồng ý ngay. Hoàng Tùng và Thép Mới cũng ưng. Ngay sau đó, tên được đặt lại là: Chuyện lớn... Chuyện nhỏ... Tiếp theo, đến phần bút danh tác giả, mọi người cùng xướng lên: Cử Choáng, Đồ Tân (từ Đồ Phồn mà ra), Tú Poăng, Tú Xuýt. Chưa ổn! Chợt nghĩ rằng các báo khác đang xuất hiện Thợ Xây, Phạm Lê Văn đề xuất: Đã có Tú Mỡ, Tú Thịt, Tú Nạc, Tú Sụn, Thợ Xây rồi, thôi thì ta cứ đề Thợ Rèn! Mọi người tán thưởng. (Sau này lại có người cho rằng, bút danh Thợ Rèn là do Thép Mới gợi ý). CLCN mới được sáu tháng tuổi thì lại có ý kiến rằng có nên đề bút danh Thợ Rèn, hay là đề tên chung (nhiều tác giả)? Ban biên tập xin ý kiến Bác Hồ. Bác bảo: Cứ để tên Thợ Rèn.
Tổng biên tập và cả nhóm đề nghị Phạm Lê Văn viết và lấy bút danh ấy. Như vậy là Thợ Rèn với chuyên mục độc đáo CLCN trong nhiều năm như là của riêng ông, đã tạo nên một hiện tượng hiếm có ở báo Nhân Dân.
Đã là người góp phần lớn khai sinh ra chuyên mục CLCN, Thợ Rèn lại là tác giả đứng riêng lâu năm nhất, được báo giữ mục này có thể là lâu nhất so với các nhà báo khác, các chuyên mục khác ở chính tờ báo Nhân Dân nói riêng và mọi tờ báo khác nói chung. Thợ Rèn là người duy nhất ở báo Nhân Dân làm trưởng một bộ phận chỉ có một người (sau này ông có kiêm chức phụ trách bộ phận Bạn đọc, rồi Phó trưởng ban Văn hóa - văn nghệ). Tổng biên tập duyệt bài của Thợ Rèn, chỉ bỏ hoặc đăng, chứ ít khi sửa chữa. Mọi người nói: “Ông ấy đưa lên là têzê ngay” (Tg, chữ ký tắt của nhà báo tài danh Hoàng Tùng).
Thợ Rèn là một trong số những tác giả có nhiều bài nhất ở báo Nhân Dân so với đồng nghiệp làm cùng một thời gian, cũng là tác giả có nhiều bài hơn cả so với những ai cùng viết loại hình này trong cùng những năm tháng ấy. Ban đầu thì cách vài ngày có bài, sau thì liên tục, như những năm 1959-1960, hầu như mỗi ngày một bài (sau này cũng có thời gian ngừng lâu). Ông đã đăng khoảng ba nghìn bài thơ châm biếm, hàng trăm bài ca dao và hơn năm mươi tiểu phẩm văn xuôi.
Thợ Rèn là một trong những tác giả có nhiều bạn đọc nhất, nhận được nhiều lời hồi âm nhất từ bạn đọc. Nhiều năm trước chưa có điện thoại riêng, người ta viết thư là chính. Có ngày Thợ Rèn nhận được đến năm mươi bức thư. Nhiều bạn đọc, hễ cầm tờ Nhân Dân là mở ngay trang 3 xem mục CLCN. Vắng mục này chỉ mấy ngày thôi, đã xôn xao hỏi. Có cái Tết, thiếu thơ Thợ Rèn, nhiều bạn đọc thắc mắc, tức khắc sau Tết, đỡ ốm là ông viết ngay, đăng liền.
Thợ Rèn thuộc một trong số tác giả ở báo Nhân Dân được Bác Hồ quan tâm. Trong số những nhà thơ châm biếm đang sáng tác, Bác yêu quý nhất Tú Mỡ và Thợ Rèn. Thợ Rèn in đến bài thứ ba thì được Bác gọi điện khen. Căn cứ vào những bài thơ của Thợ Rèn, Bác đề nghị những người có trách nhiệm kiểm tra sự việc, nhắc nhở các cá nhân, cơ quan, địa phương phạm sai lầm, khuyết điểm phải sửa chữa kịp thời, nếu nghiêm trọng thì phải đăng ý kiến tiếp thụ phê bình, xin lỗi và chịu kỷ luật. Đọc bài thơ Lột da đầu của Thợ Rèn nói đến trường hợp một công nhân nữ trẻ để tóc cuốn vào máy, tróc hết cả da đầu, Bác đề nghị tác giả liên hệ với nhà máy làm báo cáo trình bày cho Người rõ. Bác chỉ thị cho Bộ Văn hóa giúp người bị nạn đến khu Văn công để làm tóc giả. Năm 1967, Thợ Rèn đăng bài phê phán ông Chủ tịch một huyện thuộc tỉnh Nam Định tổ chức lễ cưới cho con, đãi khách ba ngày liền, trong bài thơ có câu Hãy cho ông ấy về ngơi cái vườn. Bác đề nghị bí thư Tỉnh ủy Nam Định kiểm tra việc này. Ông Chủ tịch huyện bị điều đi làm ở công trường, sau lại được đưa về. Mùa xuân năm 1958, sau bốn năm quân Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ, ngụy binh được hưởng chính sách khoan hồng. Trong số những người trở về quê hương làm ăn, có kẻ sa vào ăn chơi. Nam nữ thanh niên bắt chước họ làm răng vàng, nhiều nhất là vùng đồng bào Tày ở Lạng Sơn. Đọc bài thơ Đổ răng vàng cười nhạo những người Răng đang lành thì thuê thợ nhổ/... Nỡ đem kìm mà bẻ gãy răng của Thợ Rèn, Bác đề nghị chính quyền Lạng Sơn và các nơi khác cấm thợ hành nghề làm và trồng răng vàng thực hiện những trường hợp vô lý, gây lãng phí, hại sức khỏe, phản thẩm mỹ.
Với CLCN, Thợ Rèn có lẽ là nhà báo duy nhất của báo Nhân Dân nói riêng và là nhà thơ duy nhất của giới viết văn nói chung liên tục trong nhiều năm căn cứ trực tiếp vào con người, hiện tượng, sự việc nhất định, có địa chỉ cụ thể để viết báo thời sự hằng ngày bằng thơ.
Thợ Rèn là một trong số ít các nhà thơ công bố cùng lúc cả sáng tác trào phúng và sáng tác trữ tình. Nói trào phúng là nói theo thói quen, chứ thật ra, thơ Thợ Rèn nghiêng hẳn về châm biếm. Về trữ tình, với bút danh Phạm Lê Văn, ông đã đăng hàng trăm bài ca dao trên báo Nhân Dân. Thơ châm biếm của Thợ Rèn cũng đậm chất trữ tình. Thật lạ, tác giả của những câu thơ châm biếm: Chửi bới khỏe cho đời biết tiếng/ Viết tục tằn cho truyện cách tân/ Tô hô cởi áo thay quần/ Tự do vạn tuế bình dân muôn đời, hoặc: Họp to như núi chon von/ Hành như chuột nhắt đẻ non nhẽo nhèo, hoặc: Tiêu cò bố, làm cò con/ Cuối cùng gác tía lầu son: hỏa lò lại chính là tác giả của những câu ca dao: Mặc trời lộng gió heo may/ Sương sa chết cỏ, mưa bay dải đồng/ Lúa vàng thu hết từng bông/ Rơm khô lên đống thì lòng mới vui, hoặc: Nắng hanh cho đỏ lá bàng/ Cho xanh luống cải cho vàng vườn cam, hoặc: Em về cuốc đất trồng rau/ Làm dưa đợi lúa uốn câu thì vừa.
Nếu ai gần gũi lâu, tìm hiểu sâu con người Thợ Rèn, hẳn thấy có nghịch lý vui vui về lối sống và cả thiệt thòi về hoàn cảnh đời riêng. Trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước, ông có vẻ như là lạc điệu đối với chung quanh. Có người tưởng, lẽ ra, đã là nhà thơ trào phúng mang bút danh Thợ Rèn thì người phải thô thô, đen đủi, tác phong phải toát lên sự vất vả, chất người lao động chân tay phải nhiều, phải cười cợt, tếu táo. Trớ trêu, lại không phải thế, thậm chí là ngược lại. ở ông, từ cách ăn mặc đến giao tiếp, luôn luôn toát ra vẻ lịch lãm, hào hoa, tinh tế, thư thái, khoan hòa... Ông chải tóc gọn gàng, đi giày hoặc dép loại tốt và đẹp. Quần áo loại sang, luôn luôn được là thẳng nếp. Đi chiếc xe Pơ-giô của Pháp, hồi đó rất hiếm hoi. Tuy nhiên, không ai nói gì về ông cả. Lúc này, lúc nọ ông có đỏm dáng một chút nhưng không lố bịch. Ông không vì thế mà tạo ra khoảng cách đối với mọi người. Đồ dùng của ông có sang trọng đấy, nhưng là do người anh ruột ở bên Pháp gửi về cho.
Sau năm 1975, Thợ Rèn chuyển cơ quan. CLCN tạm nghỉ, sau đó tôi được giao biên tập chuyên mục này một thời gian, đăng bài của cộng tác viên. Từ đầu những năm 80, CNCN được chuyển sang báo Nhân Dân hằng tháng và còn tồn tại cho đến hiện nay. Khi rời khỏi một tờ báo chính trị - thời sự hằng ngày để chuyển sang công tác ở cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam đúng vào độ tuổi đã chín đằm về năng lực sáng tạo cùng những nghĩ suy về nhân tình thế thái và do đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Thợ Rèn được thoát ra khỏi những ràng buộc khô cứng, giáo điều. Thơ ông chuyển sang một bước mới về chất, giảm đi nhiều tính báo chí đơn thuần, sự sơ lược, minh họa mà được bổ sung nhiều tâm sự, đạt tính khái quát nghệ thuật cao hơn, vươn tới được những vấn đề xã hội - nhân sinh rộng lớn, táo bạo, khẩn thiết.
Thế là, một bài thơ gây xôn xao dư luận của Thợ Rèn đã đến với ông. Sự việc xảy ra là, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trước đổi mới, xã hội còn nhiều trì trệ. Báo chí vẫn tô hồng là chính. Gần đến Tết Quý Hợi (1983), Ban biên tập báo Đại đoàn kết thấy cần có bài nhắc đến một số hiện tượng tiêu cực. Tổng biên tập bàn với nhà báo, nhà văn Trần Đình Vân (tức Thái Duy), đặt một bài thơ châm biếm của Thợ Rèn. Trần Đình Vân sang nhà Thợ Rèn và được nhà thơ đồng tình hưởng ứng. Tết ấy, bài thơ “Chúc Tết và không chúc Tết” của Thợ Rèn được đông đảo bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh, mặc dù bị cấp trên và một số người nhận xét là “có ý đồ xấu”. Đại đoàn kết Tết ấy bán rất chạy. Xin trích giới thiệu mấy câu trong bài thơ đó: Không chúc loại người hiền cổ lỗ/ Ngồi trên tòa rụt cổ khoanh tay/ Lập trường thịt bụng bầy nhầy/ Đằng đông cũng gật, đằng tây cũng ừ./(...)/ Ta càng chán anh “đồ mác-xít”/ Đầy một mồm toàn “đít-xì-cua”/ Tinh thần lý luận có thừa/ Gạo chiêm chẳng biết, gạo mùa chẳng hay/ Càng chán ngắt những tay đơm đó/ Hóng lập trường đón gió che phên/ Phấn son phủ cái mặt hèn/ Vì dân thì ít vì trên thì nhiều. Báo vừa ra khỏi nhà in, công an bảo vệ văn hóa đến ngay nhà tác giả “hỏi thăm”. Chiều 30 Tết, Trần Đình Vân đến, hỏi Thợ Rèn: “Anh còn ở nhà à?”, ý như là lẽ ra phải bị bắt rồi. Thợ Rèn ngồi ung dung, cười thản nhiên. Ngoài Tết, Ban Tuyên huấn Trung ương (khi ấy, nhà báo Hoàng Tùng làm trưởng ban) gửi giấy đến nhà mời lên.
Đến năm 1988, một bài thơ nữa của Thợ Rèn lại được dư luận chú ý và hưởng ứng. Đó là bài Văn nghệ là tự do và đổi mới đăng trên báo chính Nhân Dân, vẫn ở chuyên mục CLCN. Bài thơ có những câu găm sâu vào trí nhớ người đọc: Một lời vàng không biết từ đâu/ Thế là răm rắp cúi đầu/ Chung giàn bí lẩn cho bầu chịu oan/ Cái thời tiếng “liên quan” sợ lắm/ Qua đêm trường tóc trắng như bông/ Cái thời chỉ biết phục tùng/ Gọt chân cho gọn mà nong khuôn giày.
Thợ Rèn có tình thân đối với giới viết trẻ. Khi ông phụ trách bộ phận bạn đọc, phòng có hai biên tập viên rất trẻ là anh Phạm Thị Sửu (nay là nhà thơ Phạm Hồ Thu) và tôi. Ông quý tôi đã đành, bởi vì tôi được nhận về làm việc cùng ông. Đối với Sửu, vừa học đại học vừa làm biên tập viên, có năng lực và nhiều ước mơ, ông cũng có thái độ và cử chỉ trìu mến, tin tưởng. Sửu cũng kính quý một bậc cha chú có tâm, có tài.
Những năm gần đây, trước khi Thợ Rèn mất, ngoài những ngày bất chợt, thì theo lệ, cứ đến Tết dương lịch, tôi lại cùng người bạn thân là Phạm Ngọc Luật (có thời gian cùng làm ở báo Nhân Dân, cùng quê với nhà thơ), hẹn nhau mang theo một chút quà nho nhỏ đến thăm ông và hầu chuyện nhà thơ lão thành cả một buổi. Lâu lâu không thấy chúng tôi tạt qua nhà, ông lại hỏi thăm, hoặc nhắn tôi đến nhận bài đăng báo Văn nghệ. Trước khi ông mất mươi ngày, vợ chồng Luật đến thăm, ông còn nhắc lại: “Chú Ân và chú Luật là hai người chung thủy nhất”. Tôi không còn nhớ mình đã đến căn phòng gác 2, nhà số 75B, phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội, bao nhiêu lần, căn phòng mà cánh cửa phía trước còn lưu lại những lỗ thủng do mảnh bom xuyên qua. Hồi chiến tranh, gia đình ông chuyển về căn nhà cũ ở 170, phố Trần Hưng Đạo (ngẫu nhiên thú vị là cùng tên phố Trần Hưng Đạo), thành phố Nam Định (cũng là nguyên quán của tôi) một thời gian ngắn, tôi cũng đến. Khi còn khỏe, năm nào ông cũng về vùng biển Thái Bình quê nhà khoảng một tháng, nghỉ và viết ở nơi mà các đồng chí lãnh đạo tỉnh, hoặc cán bộ quân đội là bạn chiến đấu xưa, dành cho ông.
Phẩm chất nghệ sĩ nổi bật của Thợ Rèn là cảm thức văn hóa và lòng nhân ái. Ông luôn luôn nhìn cuộc sống từ góc độ văn hóa để viết. Ông không được học cao ở trường lớp nhưng dày công tự học, học sâu rộng ở đường đời. Ông yêu thương tha thiết mà làm thơ châm biếm. Tức giận mà không hằn học. Hóm hỉnh, hài hước mà không xỏ xiên, cạnh khóe. Vui mà không tục. Ông rất ít phê bình phụ nữ, thầy giáo, thầy thuốc vì cho rằng những khuyết điểm của giới này, nghề này thường là bé nhỏ, vụn vặt, còn cái đẹp, cái tốt thì thầm lặng, cao cả.
Theo Phạm Đình Ân (hoinhavanvietnam.vn)