Sáng 18-3, Trường ĐH Luật TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học “Đào tạo tiến sĩ luật tại Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh: Hành trình tri thức và lan toả giá trị pháp lý”. Hội thảo thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia và giảng viên đến từ các cơ sở đào tạo luật, viện nghiên cứu và cơ quan thực tiễn.
Nhu cầu học tiến sĩ luật ngày một tăng
Tại đây, hội thảo được chia làm hai phiên. Các đại biểu đã tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến mô hình đào tạo tiến sĩ luật, phương pháp nghiên cứu, xu hướng liên ngành trong khoa học pháp lý, cũng như những yêu cầu mới đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực pháp lý trình độ cao.
Khái quát năng lực đào tạo luật hiện nay, PGS.TS Trịnh Quốc Trung, Trưởng Phòng Đào tạo Sau ĐH, Trường ĐH Luật TP. HCM, cho biết quy mô đào tạo lĩnh vực luật tại Việt Nam đã tăng nhanh trong những năm qua. Nếu như năm 1995 chỉ có hai cơ sở được phép đào tạo luật thì đến năm 2026 đã có hơn 100 cơ sở đào tạo trình độ ĐH và sau ĐH.
Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy quy mô và chất lượng đào tạo tiến sĩ nói chung vẫn còn nhiều thách thức, như năm học 2024–2025, cả nước có hơn 12.500 nghiên cứu sinh, song tuyển sinh tiến sĩ mới đạt hơn 57%. Còn ở khối trường luật, đến năm 2025, chỉ có 12 cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ.
Riêng tại Trường ĐH Luật TP.HCM, theo PGS.TS Trịnh Quốc Trung, sau hơn 20 năm triển khai, nhà trường đã đào tạo năm ngành tiến sĩ luật, tuyển sinh 22 khóa với hơn 300 nghiên cứu sinh. Quy mô tuyển sinh những năm gần đây tăng mạnh, tỉ lệ trúng tuyển trên chỉ tiêu cải thiện rõ rệt, có năm đạt trên 90%, phản ánh sức hút và uy tín của chương trình.
Tuy nhiên, PGS.TS Trịnh Quốc Trung cũng chỉ ra một số hạn chế. Số ngành đào tạo tiến sĩ còn chưa đầy đủ, mới đạt 5/8 ngành theo danh mục; đội ngũ giáo sư, phó giáo sư còn mỏng; số lượng và chất lượng công bố quốc tế còn hạn chế; chưa có chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, chưa triển khai đồng hướng dẫn quốc tế. Bên cạnh đó, tỉ lệ nghiên cứu sinh hoàn thành đúng hạn chưa cao, một số lĩnh vực có tỉ lệ tốt nghiệp chỉ khoảng 50%.
Từ thực tế đó, nhà trường định hướng đẩy mạnh mở rộng ngành đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tăng cường nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế và xây dựng nền tảng số phục vụ đào tạo. Mục tiêu đến năm 2035 là phát triển đào tạo tiến sĩ theo hướng chuẩn hóa, quốc tế hóa, nâng cao chất lượng và tính hội nhập của khoa học pháp lý.
Gặp khó vì quy trình "hành chính hóa” trong đào tạo
Trao đổi xung quanh vấn đề đào tạo tiến sĩ luật hiện nay, GS.TS Phạm Hồng Thái, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Luật nhận định tình hình chung của các cơ sở đào tạo luật trên cả nước có nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.
Trước hết, năng lực đào tạo tiến sĩ luật chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, trong khi nhu cầu người học vẫn rất lớn. Một trong những nguyên nhân là đội ngũ giảng viên đủ điều kiện hướng dẫn còn thiếu, dẫn đến tình trạng có cơ sở đào tạo tuyển sinh khá nhiều nhưng khả năng hướng dẫn, bảo đảm chất lượng lại chưa tương xứng.
Một vấn đề đáng chú ý khác là tình trạng nghiên cứu sinh kéo dài thời gian đào tạo. Dù số lượng tuyển sinh hằng năm không nhỏ, nhưng đầu ra còn hạn chế, có trường hợp nghiên cứu sinh mất 7–8 năm vẫn chưa hoàn thành chương trình. Theo GS Thái, đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc, bởi không chỉ ảnh hưởng đến người học mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Từ những thực tế trên, GS.TS Phạm Hồng Thái cho rằng các cơ sở đào tạo cần tiếp tục suy ngẫm, đánh giá lại và có giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo tiến sĩ luật, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.
Còn theo GS.TS Võ Khánh Vinh, Trường ĐH Kiểm sát, Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các cơ sở đào tạo phải có chiến lược xây dựng, phát triển lực lượng nhà khoa học đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng lớn, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ nhu cầu xã hội.
Ông cũng chỉ ra thực tế tình trạng nghiên cứu sinh kéo dài thời gian đào tạo vẫn còn phổ biến, có trường hợp vượt xa thời hạn quy định. Nguyên nhân không chỉ đến từ người học mà còn liên quan đến khâu quản lý, thủ tục hành chính và quy trình đánh giá, khiến quá trình đào tạo bị kéo dài không cần thiết.
Về học thuật, GS Vinh nhấn mạnh vai trò chủ động của nghiên cứu sinh trong việc xác định hướng nghiên cứu. Theo ông, người học tiến sĩ phải tự hình thành đề tài trên cơ sở vấn đề thực tiễn đặt ra, thay vì phụ thuộc vào gợi ý của giảng viên. Đề tài nghiên cứu cần gắn với công việc, lĩnh vực chuyên môn của nghiên cứu sinh để bảo đảm tính khả thi và chiều sâu nghiên cứu.
Đồng thời, ông cũng bày tỏ băn khoăn về chất lượng đầu vào của đào tạo tiến sĩ hiện nay. So với trước đây, điều kiện đầu vào có xu hướng “mở” hơn, kể cả với những trường hợp chuyển đổi từ ngành khác, dẫn đến nền tảng học thuật không đồng đều, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo chung. Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, đây là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ trong thời gian tới.
Về vấn đề này, PGS.TS Ngô Hữu Phước, Phó Trưởng Khoa, Phụ trách Khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP. HCM cho rằng ông ủng hộ việc bảo đảm chất lượng đào tạo nhưng không nên “hành chính hóa” quá mức quy trình đào tạo và đánh giá. Theo ông, đào tạo tiến sĩ là bậc học cao nhất, cốt lõi phải là đánh giá năng lực nghiên cứu độc lập của nghiên cứu sinh, thay vì đặt nặng các thủ tục.
Từ thực tiễn triển khai, ông cho rằng quy trình hiện nay đã có nhiều tầng đánh giá như thông qua đề tài, bảo vệ chuyên đề, đánh giá ở đơn vị chuyên môn trước khi đến cấp cơ sở đào tạo.
Tuy nhiên, theo quy định phải gửi đề tài cho hai chuyên gia phản biện độc lập (phản biện kín) trước khi bảo vệ cấp cơ sở, trong đó chỉ cần một hoặc hai ý kiến không đồng ý là nghiên cứu sinh không được bảo vệ. Thực tế, nếu chuyên gia phản biện độc lập chưa thật sự phù hợp về chuyên môn hoặc đánh giá chưa toàn diện, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đào tạo nghiên cứu sinh.
Từ đó, PGS.TS Ngô Hữu Phước đề xuất cần xem lại vai trò và cách thức tổ chức phản biện độc lập theo hướng bảo đảm khách quan, minh bạch nhưng không biến thành rào cản mang tính thủ tục. Theo ông, các quy định quản lý là cần thiết để kiểm soát chất lượng, song không nên đặt nặng yếu tố hành chính đến mức làm ảnh hưởng đến bản chất học thuật, mà cần hướng tới mục tiêu cốt lõi là nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.