Đề xuất tăng nặng hình phạt với người bỏ trốn: Nên hay không?

(PLO)- Đề xuất của Bộ Công an về việc bổ sung “người phạm tội bỏ trốn” vào tình tiết tăng nặng trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi) lần này đang có hai luồng quan điểm.

Bộ Tư pháp vừa công bố tài liệu thẩm định hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Dự án luật dự kiến sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 và thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XVI.

Trong đó, Bộ Công an đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng “người phạm tội bỏ trốn” và “người phạm tội là thành viên của tổ chức tội phạm” nhằm hoàn thiện căn cứ ra quyết định hình phạt. Việc này nhằm bảo đảm tính công bằng, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Quá trình tham vấn chính sách, VKSND Tối cao đề nghị cân nhắc việc quy định tình tiết “người phạm tội bỏ trốn” là tình tiết tăng nặng. Theo VKSND Tối cao, tình tiết người phạm tội bỏ trốn không phải là động cơ, mục đích chính của việc phạm tội mà là yếu tố thuộc về bản chất, tâm lý của người phạm tội luôn muốn trốn tránh việc bị pháp luật xử lý. Do vậy, không coi đây là lý do để áp dụng tình tiết tăng nặng cho hành vi phạm tội.

Tuy nhiên, Bộ Công an thì cho rằng hành vi bỏ trốn trong trường hợp này không được coi là căn cứ chứng minh có tội, mà là yếu tố phản ánh thái độ chống đối, cản trở hoạt động tố tụng, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, tăng chi phí tố tụng, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, thu hồi tài sản, bảo vệ bị hại, người làm chứng và bảo đảm thi hành án.

Báo Pháp Luật TP.HCM đã ghi nhận quan điểm của các chuyên gia về vấn đề này.

ThS NGUYỄN SƠN PHƯỚC, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II:

Cần giới hạn rõ ràng

ThS Nguyễn Sơn Phước (Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II)

Đề xuất của Bộ Công an về việc bổ sung "người phạm tội bỏ trốn" vào danh sách tình tiết tăng nặng trong Bộ luật Hình sự sửa đổi là vấn đề lớn. Điều này liên quan đến chính sách hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội và thực tiễn đấu tranh chống tội phạm.

Hành vi bỏ trốn sau khi phạm tội không chỉ là phản ứng tâm lý tự nhiên mà tạo ra chuỗi hệ quả pháp lý cụ thể và đo lường được. Việc bỏ trốn làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, cản trở thu hồi tài sản, thậm chí đe dọa an toàn của bị hại và nhân chứng. Khi đó, chi phí tố tụng tăng lên, nguồn lực nhà nước bị tiêu hao, công lý bị trì hoãn.

Trong nhiều vụ án kinh tế lớn, việc đối tượng bỏ trốn ra nước ngoài đã khiến quá trình thu hồi tài sản kéo dài nhiều năm. Thiệt hại cho Nhà nước và bị hại trở nên khó khắc phục hậu quả hơn.

Dưới góc độ lý luận hình sự, hành vi bỏ trốn phản ánh thái độ của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm. Đây là một yếu tố mà nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới có tính đến khi lượng hình. Các nước như Đức, Pháp hay Nhật Bản đều có cơ chế ghi nhận thái độ hợp tác hoặc chống đối của bị cáo trong quá trình tố tụng như một yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt.

Tuy nhiên, phản biện từ VKSND Tối cao là có cơ sở. Nguyên tắc người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội (Điều 15 BLTTHS) là thành tựu lập pháp quan trọng trong bảo vệ quyền con người. Nếu hành vi bỏ trốn bị coi là tình tiết tăng nặng một cách cứng nhắc, ranh giới giữa cản trở tố tụng và quyền im lặng sẽ có nguy cơ bị xóa nhòa. Pháp luật cần thừa nhận rằng việc bỏ trốn có nhiều nguyên nhân. Có người bỏ trốn vì biết mình có tội và cố tình trốn tránh. Nhưng cũng có người bỏ trốn vì sợ hãi, thiếu hiểu biết pháp luật hay áp lực tâm lý.

Do đó, việc đánh đồng tất cả vào một tình tiết tăng nặng duy nhất là chưa thỏa đáng. Nhà làm luật cần xác định rõ tình tiết tăng nặng này chỉ áp dụng khi người phạm tội đã biết mình đang bị điều tra hoặc bị khởi tố mà vẫn cố ý bỏ trốn. Quy định không áp dụng đối với trường hợp rời khỏi nơi cư trú vì lý do khác trước khi cơ quan tố tụng tiếp cận.

Đồng thời, quy định cần phân hóa theo các mức độ: bỏ trốn trong nước khác với bỏ trốn ra nước ngoài; bỏ trốn trong thời gian ngắn khác với bỏ trốn kéo dài; bỏ trốn trong giai đoạn điều tra khác với bỏ trốn trong giai đoạn truy tố. Mỗi trường hợp cần được xem xét với mức tăng nặng tương xứng.

Bị cáo Bùi Đình Khánh (bỏ trốn sau khi bắn chiến sĩ công an) trình bày lời khai tại tòa. Ảnh: NS

Luật sư LÊ VĂN HOAN, Đoàn Luật sư TP.HCM:

Không cần thiết quy định bỏ trốn là tình tiết tăng nặng

Luật sư Lê Văn Hoan (Đoàn Luật sư TP.HCM)

Đề xuất của Bộ Công an dựa trên yêu cầu thực tiễn về phòng chống tội phạm và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, việc quy định như vậy mang tính trừng phạt và có thể sẽ phức tạp hơn, không đồng bộ với các quy định khác.

Bản chất của các tình tiết tăng nặng tại Điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành đều tập trung phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc đặc điểm nhân thân của người phạm tội tại thời điểm thực hiện tội phạm. Trong khi đó, việc bỏ trốn là một hành vi xảy ra sau khi tội phạm đã hoàn thành và cơ bản không làm thay đổi bản chất của tội phạm ban đầu. Do đó, việc áp dụng một hành vi hậu quả để tăng nặng trách nhiệm hình sự cho một tội danh trước đó có thể gây phức tạp, thiệt hại tổng thể lớn hơn so với yếu tố tích cực.

Hệ thống pháp luật hiện nay đã có chế tài đối với hành vi bỏ trốn. Khi một người bỏ trốn, họ đã tự tước đi cơ hội được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hiện đã có khoảng cách hình phạt giữa người đầu thú, tự thú và người bỏ trốn, nên việc áp dụng quy định “bỏ trốn là tình tiết tăng nặng” có lẽ không cần thiết.

Nếu đưa quy định này vào có thể dẫn đến hệ lụy người phạm tội nảy sinh tâm lý "đâm lao phải theo lao". Thay vì ra đầu thú để nhận sự khoan hồng, họ sẽ chọn con đường trốn chạy triệt để, thậm chí sẵn sàng chống trả quyết liệt lực lượng thực thi pháp luật hoặc tiếp tục phạm tội mới để duy trì cuộc sống lẩn trốn. Điều này vô tình làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội và gây áp lực lớn hơn cho công tác truy tìm của cơ quan điều tra.

Luật sư TRẦN THỊ HOA, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi:

Luật sư Trần Thị Hoa (Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi)

Bỏ trốn không phải là động cơ, mục đích của việc phạm tội mà là yếu tố thuộc về bản chất, tâm lý của người phạm tội. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Việc suy diễn hành vi bỏ trốn như một căn cứ để đánh giá bất lợi cho bị can, bị cáo là không phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội.

Có thể nói, bỏ trốn chỉ là hậu quả sau khi phạm tội nên việc coi đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sẽ trái nguyên tắc công bằng. Do đó, tình tiết “người phạm tội bỏ trốn” không nên xem là lý do để áp dụng tình tiết tăng nặng cho hành vi phạm tội.

Điểm q khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành đã có quy định “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm” là một trong các tình tiết tăng nặng. Do đó, tôi cho rằng cơ quan có thẩm quyền nên hướng dẫn cụ thể hơn quy định này nhằm làm rõ trường hợp sau khi phạm tội mà bỏ trốn và có hành động dùng thủ đoạn xảo quyệt nhằm trốn tránh pháp luật thì có phù hợp áp dụng điểm q khoản 1 hay không.

Việc chứng minh hành vi phạm tội thuộc nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng. Người có hành vi phạm tội không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Vậy khi người phạm tội không bỏ trốn nhưng lại “giữ quyền im lặng” thì ý nghĩa của chế tài tăng nặng này cũng không đạt được.

Thay vì coi “bỏ trốn là tình tiết tăng nặng”, nên chăng quy định định lượng theo hướng gia tăng khoảng cách hình phạt giữa bỏ trốn và tự thú, đầu thú sẽ có tác dụng tự nguyện so với “cưỡng chế”. Trường hợp vẫn đưa quy định này vào thì nên chăng cũng đưa “đầu thú là tình tiết giảm nhẹ” tại khoản 1 thay vì khoản 2 để cân bằng với tình tiết tăng nặng.

Luật sư LÊ VĂN HOAN, Đoàn Luật sư TP.HCM)

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới