Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, trong đó đề xuất loại bỏ ngành nghề sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô ra khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ngay sau thông tin này, các “ông lớn” trong lĩnh vực sản xuất ô tô trong nước đã đồng loạt gửi kiến nghị tới Thủ tướng, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính, đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng đề xuất này.
Lo ngại cạnh tranh lệch pha, suy giảm nội địa hóa
Cụ thể, Tập đoàn Trường Hải (Thaco) cho rằng việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh với lĩnh vực ô tô chưa phù hợp. Bởi đây là ngành công nghiệp nền tảng, tác động đến nhiều ngành, đồng thời có khả năng ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường. Do vậy, sản phẩm có yêu cầu rất cao về chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, cộng đồng.
Ô tô cũng có thời gian sử dụng lâu dài với yêu cầu chất lượng cao. Do đó, người tiêu dùng cần được bảo đảm quyền tiếp cận các nhà sản xuất, phân phối có đủ năng lực về bảo hành, bảo dưỡng, cung ứng linh phụ kiện thay thế và triệu hồi sản phẩm lỗi.
"Việc đáp ứng các điều kiện về nhà xưởng, dây chuyền, cơ sở bảo hành, bảo dưỡng không phải rào cản hành chính mà để đảm bảo chất lượng, trách nhiệm của nhà sản xuất suốt vòng đời sử dụng" - Thaco nêu.
Cùng quan điểm, phía VinFast khẳng định các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật thể hiện năng lực, cam kết đầu tư nghiêm túc và lâu dài của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe.
Hãng cũng kiến nghị giữ lại các thủ tục hành chính trong nhập khẩu, sản xuất ô tô để tránh nguy cơ để lọt các doanh nghiệp không đáp ứng yêu cầu hay những đơn vị nhập khẩu không có hệ thống hậu mãi, gây rủi ro cực lớn cho người mua khi chiếc xe gặp sự cố kỹ thuật phức tạp.
"Nguy cơ thiệt hại cho người tiêu dùng càng lớn hơn vì ô tô loại hàng hóa có giá trị cao, kỹ thuật và công nghệ phức tạp", VinFast lo ngại.
Những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp như hãng đã đầu tư lớn vào hệ thống nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, nhân lực và hệ thống cung ứng nội địa. Thành Công (TC Group) cho rằng việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh bắt buộc sẽ không công bằng giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp với nhập khẩu ô tô.
"Nếu các điều kiện kinh doanh với xe trong nước và nhập khẩu bị bãi bỏ hoàn toàn, doanh nghiệp nhập khẩu có thể tham gia thị trường với rào cản thấp hơn. Điều này dẫn tới bất lợi cho các doanh nghiệp đã đầu tư và có chiến lược dài hạn vào sản xuất trong nước", TC Group cho biết.
Trước đó, Bộ Công Thương cũng từng cảnh báo nguy cơ doanh nghiệp chuyển sang nhập khẩu các cụm linh kiện, thân xe gần hoàn chỉnh và chỉ thực hiện lắp ráp đơn giản trong nước. Điều này có thể làm suy yếu mục tiêu nội địa hóa và kìm hãm sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ.
Giấy phép kinh doanh có điều kiện là một 'tiền kiểm' chồng chéo
Ngược lại với nỗi lo lớn của các doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) lại đưa ra những lập luận dựa trên nguyên lý thị trường và xu thế cải cách toàn cầu.
VCCI cho rằng hiện nay Việt Nam đã có một hệ thống hậu kiểm đủ mạnh. Mọi chiếc xe muốn lăn bánh đều phải đi qua lưới lọc của hệ thống đăng kiểm và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Do đó, giấy phép kinh doanh có điều kiện thực chất là một lớp tiền kiểm chồng chéo, làm tăng chi phí mà không mang lại thêm giá trị bảo vệ thực tế.
Theo VCCI, giá ô tô tại Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất khu vực ASEAN. Rào cản gia nhập thị trường quá cao đã giúp một số ít doanh nghiệp lớn chi phối thị trường, hạn chế sự cạnh tranh và tước đi cơ hội sở hữu xe của đại đa số người dân.
"Việc dùng điều kiện kinh doanh như một hàng rào kỹ thuật trá hình không còn phù hợp với các cam kết quốc tế và không phải là công cụ hiệu quả để thúc đẩy nội địa hóa", VCCI khẳng định.
Có thể xuất hiện tình trạng kinh doanh thiếu kiểm soát
Trao đổi về vấn đề này, một chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường. Một bên là bảo hộ để nuôi dưỡng các "sếu đầu đàn", một bên là mở cửa để kích thích cạnh tranh.
"Chúng ta không thể bảo hộ mãi bằng các rào cản hành chính cứng nhắc. Tuy nhiên, việc bãi bỏ cũng không nên diễn ra theo kiểu "đánh úp" chính sách", vị chuyên gia nói.
Từ đó, theo vị này, cần chuyển dịch từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn. Nghĩa là nhà nước không cần quan tâm doanh nghiệp có bao nhiêu mét vuông nhà xưởng, nhưng sản phẩm ra đời phải đạt tiêu chuẩn Euro 5, phải có cam kết triệu hồi và bảo hành đủ mạnh.
Còn ông Võ Minh Lực, Giám đốc Điều hành BYD Auto Việt Nam, khẳng định ô tô là tài sản lớn và liên quan trực tiếp đến an toàn nên cần có điều kiện quản lý. Nếu không sẽ xảy ra tình trạng mạnh ai nấy nhập khẩu, kinh doanh thiếu kiểm soát; xe không có kiểm chứng, không được ủy quyền chính hãng, không có hệ thống dịch vụ sửa chữa.
Theo ông Lực, khác với nhiều mặt hàng tiêu dùng thông thường, một chiếc ô tô sau khi bán ra còn gắn với trách nhiệm dài hạn của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và đại lý phân phối.
Xe có thể phát sinh lỗi kỹ thuật sau nhiều năm vận hành. Khi đó, doanh nghiệp phải có năng lực thông báo, triệu hồi, sửa chữa, thay thế linh kiện và chịu trách nhiệm với khách hàng.
Lo ngại suy giảm nhu cầu với linh kiện, phụ tùng và dịch vụ công nghiệp trong nước
Cùng chung quan điểm với các ý kiến trên, đại diện Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng sản xuất, lắp ráp ô tô là ngành công nghiệp công nghệ cao, có sức lan tỏa lớn tới nhiều lĩnh vực như cơ khí, điện - điện tử, nhựa, cao su, vật liệu…
Vì vậy, bất kỳ biến động nào của ngành ô tô cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp tới cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Theo vị đại diện này, nhiều quốc gia trên thế giới đều áp dụng các chính sách bảo hộ phù hợp trong giai đoạn đầu phát triển hoặc khi ngành ô tô bước vào chu kỳ chuyển đổi công nghệ. Trong khi đó, Việt Nam hiện đang chuyển dịch từ phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang xe điện và các dòng xe sử dụng năng lượng mới.
“Việc duy trì điều kiện kinh doanh là cần thiết để doanh nghiệp, thị trường và người tiêu dùng có thời gian thích ứng, đồng thời củng cố năng lực sản xuất trong nước”, đại diện VASI nói.
Một trong những lo ngại lớn nhất được đại diện Hiệp hội này đưa ra là nguy cơ thị trường chuyển dịch từ sản xuất, lắp ráp sang nhập khẩu nguyên chiếc nếu các điều kiện kinh doanh bị bãi bỏ.
Theo đó, khi rào cản gia nhập thị trường giảm xuống, doanh nghiệp có thể ưu tiên phương án nhập khẩu thương mại thay vì đầu tư dài hạn vào nhà máy, dây chuyền và chuỗi cung ứng nội địa. Điều này sẽ kéo theo sự suy giảm nhu cầu đối với linh kiện, phụ tùng và dịch vụ công nghiệp trong nước.
Đại diện Hiệp hội cảnh báo một thị trường lắp ráp thiếu ổn định sẽ khiến doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ giảm động lực đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cấp năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, điều kiện kinh doanh còn đóng vai trò sàng lọc nhà đầu tư, qua đó khuyến khích các doanh nghiệp có cam kết đầu tư dài hạn vào sản xuất và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Bên cạnh vấn đề sản xuất, đại diện VASI cũng bày tỏ lo ngại nguy cơ gia tăng gian lận xuất xứ hàng hóa trong bối cảnh cạnh tranh thương mại toàn cầu ngày càng gay gắt, đặc biệt với các ngành nhạy cảm như ô tô và năng lượng mới.
Và việc duy trì cơ chế điều kiện kinh doanh sẽ giúp tăng khả năng kiểm soát xuất xứ hàng hóa ngay từ đầu vào, hạn chế rủi ro bị điều tra hoặc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Theo số liệu thống kê, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng tích cực, đóng góp hơn 3% GDP và tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động trực tiếp.
Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước liên tục gia tăng, từ hơn 323.000 xe năm 2020 lên khoảng 388.500 xe năm 2024 và dự kiến đạt khoảng 480.000 xe trong năm 2025, chiếm gần 70% tổng lượng xe tiêu thụ.
Song song, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ cũng phát triển đáng kể với khoảng 650 doanh nghiệp tham gia sản xuất linh kiện, phụ tùng. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu linh kiện ô tô đạt 10,6 tỉ USD, trong đó các thị trường chủ lực gồm Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc.
Đáng chú ý, mặt hàng dây dẫn điện chiếm tỷ trọng lớn, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu sản phẩm này hàng đầu thế giới.