Chiến sự Trung Đông định hình lại nhu cầu dầu mỏ toàn cầu

(PLO)- Sự gián đoạn nguồn cung dầu ở mức lớn nhất trong lịch sử hiện đại do chiến sự Trung Đông có thể làm giảm nhu cầu dầu mỏ trong tương lai, do các nước dần thích nghi với hiện trạng thiếu nguồn cung và tìm các biện pháp năng lượng thay thế.

Thế giới sẽ ghi nhớ cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran vì nhiều lý do, đặc biệt là việc đóng cửa eo biển Hormuz, sự định hình lại địa chính trị Trung Đông và những thiệt hại đối với nền kinh tế toàn cầu. Song bên cạnh đó có một hệ quả khác ít rõ ràng hơn, đó là sự gián đoạn nguồn cung dầu ở mức lớn nhất trong lịch sử hiện đại đã làm thay đổi cách các nước nghĩ về an ninh năng lượng, theo đài CNA.

Hơn 3 tháng trước, việc đóng cửa eo biển Hormuz đã gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Giá dầu tăng vọt, dòng chảy thương mại bị gián đoạn, các chính phủ triển khai biện pháp ứng phó và các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh giá, chiến lược kinh doanh theo bối cảnh nguồn cung năng lượng ngày càng bất ổn.

Nhưng giữa sự gián đoạn đó nổi lên một xu hướng khác khi các quốc gia bắt đầu thích nghi với cuộc sống có lượng cung dầu thấp hơn. Điều này vô tình khiến đỉnh nhu cầu dầu mỏ có thể đến sớm hơn dự kiến, sau đó nhu cầu nguồn năng lượng này có thể đi ngang hoặc giảm xuống.

Tàu chở dầu Bili mang cờ Gambia neo đậu tại eo biển Hormuz (miền nam Iran) vào tháng 5. Ảnh: Amirhossein Khorgooei/ISNA/AFP

Nhu cầu dầu sẽ giảm

Trước chiến tranh, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo nhu cầu dầu mỏ sẽ “tăng 2,5 triệu thùng/ngày từ năm 2024 đến năm 2030, đạt mức ổn định khoảng 105,5 triệu thùng/ngày vào cuối thập niên này”.

Hiện nay, IEA dự báo nhu cầu dầu mỏ toàn cầu năm 2026 sẽ thấp hơn khoảng 1,3 triệu thùng/ngày so với dự kiến ​​trước chiến tranh. Trước thực tế nguồn cung hạn chế và sự bất ổn chưa từng có xung quanh eo biển Hormuz, các chính phủ và ngành công nghiệp đã đẩy nhanh nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ.

Thị trường cũng phản ứng tương ứng với tình hình chiến sự. Giá dầu tăng khi có các cuộc tấn công mới và giảm khi có thông tin về tiến triển ngoại giao.

Trước chiến tranh, khoảng 125 đến 140 tàu thuyền di chuyển qua eo biển Hormuz mỗi ngày. Tuyến đường thủy này được coi là dễ bị tổn thương nhưng đáng tin cậy vì khi ấy thế giới cho rằng sự gián đoạn ở Hormuz là khó có thể xảy ra. Ba tháng qua đã chứng minh rằng dù không bị đóng cửa chính thức nhưng eo biển vẫn có thể bị hạn chế về mặt chức năng. Lưu lượng tàu chở dầu giảm, các mối đe dọa trên biển, các hoạt động quân sự và sự bất ổn dai dẳng đã làm gián đoạn dòng chảy thương mại và buộc các chính phủ phải xem xét lại cách sử dụng năng lượng.

Cuộc khủng hoảng này cũng khiến an ninh năng lượng không còn có thể được hiểu đơn giản là đảm bảo nguồn cung nhiên liệu đầy đủ. An ninh năng lượng còn phải bao gồm sự đa dạng hóa, dự phòng, dự trữ chiến lược, cơ sở hạ tầng kiên cố, các tuyến đường vận chuyển thay thế, tính linh hoạt về nhiên liệu và giảm thiểu rủi ro từ các điểm yếu đơn lẻ. Cuộc chiến với Iran đã trở thành một thử nghiệm thực tế đối với khuôn khổ đó.

Một trạm xăng ở Johor Baru (Malaysia). Ảnh: CNA

Do đó, di sản lâu dài của cuộc chiến hiện nay nằm ở cách nó đã định hình lại cách các chính phủ, công ty và người tiêu dùng suy nghĩ về an ninh năng lượng.

Theo ông Fatih Birol – Giám đốc Điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA,) cuộc khủng hoảng vận tải biển ở eo biển Hormuz hiện là "sự gián đoạn nguồn cung lớn nhất trong lịch sử thị trường dầu mỏ toàn cầu".

Những “biện pháp sinh tồn” của châu Á

Châu Á là khu vực chịu ảnh hưởng rõ nhất vì cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu từ Trung Đông.

Trước khi chiến tranh xảy ra, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 11 triệu thùng dầu/ngày. Kể từ chiến tranh, nhập khẩu dầu của nước này đã giảm mạnh khi Trung Quốc giảm lượng dự trữ, điều chỉnh hoạt động lọc dầu, thay thế than đá cho một số nguyên liệu hóa dầu và thực hiện các biện pháp tiết kiệm. Theo một số nhà phân tích, việc giảm nhập khẩu của Trung Quốc là một trong những lý do chính khiến giá dầu không tăng cao như nhiều người lo ngại.

Vai trò của Trung Quốc đặc biệt quan trọng vì nước này là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu trong thập niên qua. Từ năm 2015 đến năm 2024, nhu cầu dầu của Trung Quốc tăng gần 6 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 60% tổng tăng trưởng nhu cầu toàn cầu, theo CNA.

Ngay cả trước chiến tranh, IEA đã dự báo nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc sẽ đạt đỉnh điểm và chững lại trong thập niên này. Lý do vì sự gia tăng sử dụng xe điện, xe tải chạy bằng khí tự nhiên hóa lỏng, đường sắt cao tốc và những thay đổi về nhân khẩu học sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ trong tương lai.

Trung Quốc không phải là trường hợp duy nhất. Chính phủ các nước trên khắp châu Á và các khu vực khác trên thế giới cũng áp dụng những “biện pháp sinh tồn” đa dạng trong bối cảnh nguồn cung dầu thiếu hụt.

Một tàu chở dầu đang cập cảng và dỡ dầu thô tại cảng ở tỉnh Sơn Đông (miền đông Trung Quốc) vào tháng 4. Ảnh: AFP

Nhiều nước áp dụng các chính sách làm việc 4 ngày/tuần, chính sách làm việc tại nhà, hạn chế sử dụng điều hòa không khí, phân bổ sản lượng công nghiệp, trợ cấp khẩn cấp, giảm thuế và hỗ trợ trực tiếp cho đầu vào nông nghiệp. Hơn 100 quốc gia đã đưa ra các biện pháp để giảm bớt khó khăn kinh tế liên quan sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ do chiến tranh.

Những chính sách này được thiết kế để duy trì hoạt động của nền kinh tế, sự ổn định của xã hội. Những chính sách này cũng góp phần cho thấy những giả định từng định hình hệ thống năng lượng trước chiến tranh, như nguồn cung dồi dào, vận chuyển đáng tin cậy qua eo biển Hormuz và niềm tin rằng sự gián đoạn sẽ chỉ là tạm thời, giờ đây không còn đúng nữa.

Có được phép thu tiền với tàu đi qua eo biển Hormuz?

Trong tháng 5, có tin Iran buộc các tàu đi qua eo biển Hormuz phải đóng tiền để đi qua eo biển này an toàn. Các chuyên gia hàng hải khẳng định việc thu phí ở eo biển Hormuz là không hợp lý, trong khi các điểm nghẽn giao thông hàng hải quan trọng khác như kênh đào Suez và kênh đào Panama thì được phép thu phí, theo đài DW.

Theo luật hàng hải quốc tế, các eo biển tự nhiên được tàu thuyền sử dụng cho mục đích hàng hải. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) trao cho tàu thuyền và máy bay của tất cả quốc gia quyền quá cảnh qua các eo biển quốc tế nối liền hai phần của vùng biển quốc tế.

Theo đó, tàu phải di chuyển qua eo biển mà không bị chậm trễ và không được neo đậu trừ trường hợp khẩn cấp.

Các quy định của UNCLOS nêu rõ rằng việc vận chuyển hàng hóa qua eo biển phải được phép diễn ra mà không có sự can thiệp từ quốc gia ven biển. Ngoài ra, các quốc gia ven biển chỉ được phép thu phí dịch vụ hạn chế, bao gồm phí hoa tiêu và phí kéo tàu.

Các kênh đào như Suez và Panama là những tuyến đường thủy nhân tạo được xây dựng, sở hữu và bảo trì do các quốc gia có chủ quyền với chi phí khổng lồ. Trong khi đó, theo DW, eo biển Hormuz không phải trải qua quá trình xây dựng và bảo trì như vậy nên việc thu phí là không hợp lý.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới