Gia hạn thuế 125.000 tỉ đồng: Hiệu quả nhưng chưa đủ

(PLO)- Việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất được xem là chính sách tài khóa linh hoạt, cải thiện dòng tiền và tạo dư địa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và tiền thuê đất trong năm 2026. Theo đề xuất, tổng số tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn có thể lên tới khoảng 125.000 tỉ đồng.

Bộ Tài chính cho biết mặc dù kinh tế vĩ mô trong những tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, song Chính phủ nhận định nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục thực hiện chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất được đánh giá là giải pháp cần thiết nhằm hỗ trợ doanh nghiệp duy trì dòng tiền, tạo thêm dư địa cho hoạt động sản xuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Khoảng đệm để doanh nghiệp duy trì dòng vốn

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất được xem là chính sách tài khóa linh hoạt, góp phần cải thiện dòng tiền và tạo dư địa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), cho rằng các chính sách gia hạn, giảm thuế và tiền thuê đất thời gian qua đã phát huy tác dụng rõ rệt, góp phần trực tiếp cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp.

Theo ông Nam, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dệt may, da giày và các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp đã phản ánh, khi được gia hạn thuế, họ có thêm thời gian để xoay vòng vốn, trả lương cho người lao động thay vì phải vay ngân hàng với lãi suất cao.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi), cho rằng việc kéo giãn thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế có ý nghĩa đặc biệt với doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh đang chịu áp lực về vốn lưu động.

Theo đó, thay vì phải nộp ngay các khoản thuế đến hạn, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để thanh toán tiền lương, nhập nguyên vật liệu, đầu tư sản xuất hoặc mở rộng thị trường. Trong bối cảnh lãi suất vay vốn vẫn tạo áp lực đối với nhiều đơn vị, khoản tiền được “giữ lại” tạm thời này có thể trở thành nguồn tài chính ngắn hạn với chi phí gần như bằng không.

Ở góc độ vĩ mô, ông Huy cho rằng chính sách còn phát đi tín hiệu về sự đồng hành của Chính phủ với khu vực sản xuất, kinh doanh. Thực tế giai đoạn 2020-2025 cho thấy các chính sách gia hạn thuế và tiền thuê đất đã hỗ trợ hàng trăm nghìn tỉ đồng cho doanh nghiệp mà vẫn bảo đảm nguồn thu ngân sách về dài hạn khi các khoản tiền này được nộp đầy đủ sau thời gian gia hạn.

Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng cho rằng để chính sách phát huy hiệu quả tối đa, việc triển khai cần bảo đảm đơn giản, minh bạch và đúng đối tượng. Thủ tục hành chính nên được rút gọn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng, tránh phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết.

Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần sử dụng nguồn lực được gia hạn đúng mục đích, ưu tiên cho sản xuất và đầu tư thay vì các hoạt động mang tính ngắn hạn hoặc đầu cơ.

Đề xuất gia hạn loạt sắc thuế nhận được nhiều đánh giá tích cực. Ảnh: MINH TRÚC

Vẫn còn nhiều việc phải làm

Ủng hộ đề xuất gia hạn hàng loạt sắc thuế của Bộ Tài chính, chuyên gia kinh tế TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng trong các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiện nay, chính sách thuế là giải pháp có tốc độ tác động nhanh nhất và trực tiếp nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo ông, việc giảm thuế GTGT giúp hạ giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn kho. Đồng thời, đây cũng là công cụ giúp giảm bớt tác động từ biến động giá nhập khẩu.

Đặc biệt, với thuế TNDN, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng việc giãn, hoãn thời gian nộp thuế thực chất là một hình thức hỗ trợ tài chính rất hiệu quả, chẳng khác nào một khoản vay không lãi suất từ Nhà nước.

Doanh nghiệp được giữ lại dòng tiền mặt để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải gánh thêm chi phí vốn.

Tuy nhiên, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng chính sách thuế chỉ là giải pháp hỗ trợ trước mắt. Để tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế trong giai đoạn tới, cần đồng thời tháo gỡ ba nút thắt lớn.

Thứ nhất là khơi thông đầu tư công thông qua việc điều chỉnh đơn giá xây dựng. Theo ông, giá vật liệu và nhân công đã tăng mạnh trong thời gian dài nhưng nhiều định mức, đơn giá vẫn chưa được cập nhật tương ứng, khiến không ít nhà thầu rơi vào tình trạng "càng làm càng lỗ".

Hệ quả là hàng loạt dự án đầu tư công chậm tiến độ hoặc đình trệ, làm suy giảm hiệu quả của một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế.

Thứ hai, giải quyết dứt điểm bài toán tín dụng nhà ở xã hội. TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng việc kỳ vọng các ngân hàng thương mại tự cân đối nguồn vốn để cho vay ưu đãi với lãi suất thấp là không khả thi trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Theo ông, ngân sách nhà nước cần trực tiếp tham gia bù lãi suất cho cả doanh nghiệp phát triển dự án và người mua nhà.

Điều thứ ba được TS Lê Xuân Nghĩa đặc biệt nhấn mạnh là việc nới mạnh ngưỡng doanh thu chịu thuế với hộ kinh doanh. Ông cho rằng mức doanh thu 1 tỉ đồng/năm hiện đang áp dụng đã không còn phù hợp.

"Dữ liệu khảo sát của chúng tôi cho thấy ngay cả một quán phở bình dân cũng có thể đạt doanh thu từ 1,5 - 1,7 tỉ đồng/năm. Trong khi đó, biên lợi nhuận của ngành ăn uống rất thấp", ông dẫn chứng.

Vì vậy, chuyên gia này kiến nghị nâng ngưỡng doanh thu lên 5 tỉ đồng/năm nhằm giảm áp lực cho hộ kinh doanh, khoan thư sức dân.

Ông cũng đề nghị các cơ quan quản lý sớm ban hành hướng dẫn rõ ràng, minh bạch hơn về hóa đơn điện tử để doanh nghiệp và hộ kinh doanh yên tâm triển khai, tránh phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới