Việt Nam đang đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số (trên 10%) trong giai đoạn 2026-2030 nhằm hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Để làm được điều này, TS Trần Hải Linh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc, cho rằng không nên chạy theo “con số” tăng trưởng mà nên thay đổi tư duy, tạo ra nền tảng tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và con người.
Không theo đuổi con số mà tạo ra nền tảng
. Phóng viên: Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định và nội tại nền kinh tế đất nước đang đối mặt không ít khó khăn, ông đánh giá mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam trong thời gian tới có khả thi không?
+ Ông Trần Hải Linh (ảnh): Tôi cho rằng mục tiêu này không phải là điều bất khả thi nhưng đây là mục tiêu rất thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, năng suất và đổi mới sáng tạo.
2026-2030. Ảnh: QUANG HUY
Bối cảnh thế giới có nhiều bất định còn ở trong nước, nền kinh tế đang đối mặt với những điểm nghẽn về năng suất lao động, thể chế, thị trường vốn, khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào các động lực truyền thống như đầu tư công, FDI, khai thác tài nguyên hay bất động sản… thì rất khó đạt tăng trưởng hai con số bền vững.
Tuy nhiên, nếu nhìn ở tầm trung và dài hạn, tôi cho rằng Việt Nam vẫn có dư địa và cơ hội thực tế để tiệm cận và từng bước đạt tăng trưởng cao. Điều đó có thể đạt được nếu hội tụ một số điều kiện then chốt. Đó là Việt Nam cần tạo đột phá thực chất về thể chế, vốn được coi là “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”.
Tăng trưởng hai con số chỉ khả thi khi năng suất lao động tăng nhanh, mà điều này chỉ đến từ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó, cần kích hoạt mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân và nguồn lực kiều bào.
Tăng trưởng hai con số cũng không nên hiểu cứng nhắc là “mọi năm đều phải đạt”, mà cần được tiếp cận theo chu kỳ phát triển. Có những giai đoạn Việt Nam hoàn toàn có thể bứt tốc rất cao nếu cải cách đủ mạnh, tạo cú hích lan tỏa sang các giai đoạn tiếp theo.
Nhìn chung, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là một khát vọng lớn và cần thiết để tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Điều quan trọng là chúng ta không theo đuổi con số bằng mọi giá, mà phải tạo ra nền tảng tăng trưởng mới, dựa trên thể chế hiện đại, khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và con người.
Trọng tâm phát triển kinh tế tư nhân
. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần ưu tiên điều gì, thưa ông?
+ Tăng trưởng hai con số không đến từ một giải pháp đơn lẻ, mà từ sự cộng hưởng của cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa nguồn lực con người. Để thực hiện, Việt Nam cần tiếp cận vấn đề có trọng tâm và theo lộ trình.
Cụ thể, cần đột phá mạnh mẽ về thể chế và chất lượng điều hành. Tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý trong đất đai, đầu tư, xây dựng, khoa học - công nghệ để dòng vốn xã hội được lưu thông nhanh và hiệu quả hơn.
Phải lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trung tâm. Cần ưu tiên đầu tư cho R&D, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và vùng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ lõi, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, công nghệ sinh học.
Tiếp tục, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Cần có chính sách thực chất để hình thành các doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất và cung ứng khu vực, toàn cầu. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường.
Nâng cao chất lượng thu hút và sử dụng FDI, gắn với doanh nghiệp trong nước. Trọng tâm phải chuyển từ thu hút FDI “bằng mọi giá” sang “lựa chọn có chiến lược”, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, có cam kết chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Nếu tạo được sự lan tỏa thực chất từ FDI sang khu vực nội địa, tốc độ tăng trưởng sẽ được nhân lên đáng kể.
Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là điều kiện tiên quyết. Việt Nam cần đầu tư mạnh cho giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu thị trường, đồng thời có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút trí thức, chuyên gia, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực mũi nhọn. Đây là nguồn lực “đi tắt, đón đầu” rất quan trọng.
. Ông có nhắc đến việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Theo ông, những cải cách cần sớm thực hiện để tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ?
+ Muốn khu vực doanh nghiệp thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, cải cách thể chế cần đi vào những “điểm nghẽn then chốt nhất” thay vì dàn trải.
Đó là cải cách mạnh mẽ thủ tục đầu tư theo hướng đơn giản, minh bạch. Cần rút ngắn thực chất thời gian phê duyệt dự án, đồng bộ hóa các quy trình về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; tránh tình trạng “mỗi khâu một luật, mỗi nơi một cách hiểu”.
Tiếp đó, phải tháo gỡ các vướng mắc pháp lý liên quan đến đất đai và tài sản sản xuất, kinh doanh, tạo sân chơi bình đẳng giữa các khu vực kinh tế. Chính sách ưu đãi cho FDI cần gắn chặt hơn với hiệu quả thực tế và mức độ lan tỏa.
Cải cách thủ tục hành chính cũng gắn với chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình. Việc số hóa không chỉ để “tiện hơn” mà phải giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế nhũng nhiễu.
Đặc biệt, cần hoàn thiện khung pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo. Sớm ban hành các chính sách thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong các lĩnh vực mới như công nghệ số, tài chính số, năng lượng xanh để doanh nghiệp vừa sáng tạo vừa tuân thủ pháp luật.
Chọn đúng mô hình để tạo động lực tăng trưởng
. Từ kinh nghiệm làm việc tại các nền kinh tế phát triển, ông thấy có những mô hình, cách làm nào Việt Nam có thể vận dụng?
+ Qua thực tiễn công tác, tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những động lực tăng trưởng mới nếu biết lựa chọn đúng mô hình và kiên trì triển khai.
Một số cách làm hay như mô hình “Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp dẫn dắt - thị trường định hướng”. Tức là Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chiến lược, xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng và dẫn dắt những lĩnh vực có tính nền tảng.
Việt Nam cần xác định rõ một số ngành chiến lược như công nghiệp bán dẫn, công nghệ số, năng lượng xanh, logistics, nông nghiệp công nghệ cao… để tập trung nguồn lực, đồng thời để doanh nghiệp tư nhân và FDI giữ vai trò trung tâm trong triển khai.
Hay phát triển các “cụm đổi mới sáng tạo” gắn với đại học - doanh nghiệp - địa phương. Hàn Quốc, Nhật Bản hay châu Âu đều rất thành công với mô hình này.
Ngoài ra, có thể thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt là tận dụng nguồn lực kiều bào như một “hệ sinh thái mở rộng”. Cần coi cộng đồng trí thức, doanh nhân ở nước ngoài là một phần của năng lực quốc gia và có cơ chế linh hoạt để kiều bào tham gia theo nhiều hình thức.
Tôi cho rằng động lực tăng trưởng mới của Việt Nam không chỉ đến từ mở rộng đầu tư hay tăng vốn mà quan trọng hơn là đổi mới mô hình phát triển, chuyển từ “tăng trưởng theo chiều rộng” sang “tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và con người”.
. Xin cảm ơn ông.
Kiều bào đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số
Tôi kỳ vọng các chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ thể hiện rõ hơn tinh thần ổn định, nhất quán, dài hạn và có tính dự báo cao.
Về phía cộng đồng kiều bào, chúng tôi có thể đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng hai con số thông qua ba hướng chính. Một là kết nối và dẫn dắt dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ nước ngoài vào Việt Nam. Hai là chuyển giao tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị hiện đại. Ba là làm cầu nối thị trường, đưa sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Nếu có sự đồng hành chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp trong nước và cộng đồng kiều bào, tôi tin mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. TS TRẦN HẢI LINH