Từ cao tốc đến đường sắt tốc độ cao: Hạ tầng mở đường cho tăng trưởng

(PLO)- Tiếp nối những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ trước, với cột mốc khoảng 3.000 km đường bộ cao tốc cùng hàng loạt công trình trọng điểm hoàn thành, đưa vào khai thác, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) tiếp tục xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong những đột phá chiến lược, với trọng tâm là hạ tầng giao thông đa phương thức.

0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam

Theo đó, các trục đường bộ cao tốc quan trọng; các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế; các cảng hàng không lớn; tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP.HCM; các tuyến đường sắt kết nối quốc tế sẽ được đầu tư và xây dựng trong thời gian tới.

Nền tảng hiện tại, niềm tin cho tương lai

Lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết giai đoạn 2021-2025 ghi dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển hạ tầng, nổi bật là hệ thống đường bộ cao tốc. Cách làm mới thể hiện ở việc ưu tiên nguồn lực, rút ngắn thủ tục, tổ chức thi công đồng loạt và gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ dự án.

Trong năm năm, Bộ Xây dựng khởi công 84 dự án và khánh thành 98 dự án giao thông. Riêng năm 2025 có 15 dự án được khởi công và 38 dự án khánh thành, cao gấp bốn lần so với năm 2024. Phần lớn là các dự án đường bộ.

Điểm nhấn lớn nhất là việc hoàn thành khoảng 3.000 km đường cao tốc, cơ bản khép kín tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau trong năm 2025. Cùng với đó, sân bay Long Thành hoàn thành một số gói thầu và đã đón chuyến bay đầu tiên.

Ở lĩnh vực đường sắt, Chính phủ đã tạo nền tảng quan trọng cho nhiệm kỳ tới khi trình và được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam sau gần 20 năm nghiên cứu; đồng thời thông qua dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng nhằm tăng năng lực kết nối vận tải hàng hóa quốc tế.

Về hàng hải, Bộ Xây dựng trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, thúc đẩy đầu tư, nâng cấp các cảng lớn như Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện, Vân Phong; đồng thời phát triển hạ tầng logistics, tăng cường kết nối giữa hàng hải, đường thủy với đường sắt, đường bộ và hàng không.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, việc điều hành quyết liệt đã tạo bước tiến rõ nét trong tư duy và tổ chức thực hiện. Nhiều dự án vượt tiến độ, tạo khí thế hành động mạnh mẽ, làm thay đổi diện mạo hạ tầng quốc gia.

P8-9-anh-1-bai-1.JPG
Thông xe kỹ thuật một đoạn cao tốc Bắc - Nam. Ảnh: V.LONG

Định hình hạ tầng giao thông trong kỷ nguyên mới

Nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tạo thế và lực quan trọng, nhất là việc hoàn thiện hệ thống đường bộ hiện đại. Đây là điều kiện để nhiệm kỳ tới tập trung nguồn lực cho đường sắt - phương thức vận tải an toàn, hiệu quả nhưng lâu nay chưa được đầu tư tương xứng do yêu cầu vốn rất lớn.

Đại hội XIV hướng đến việc xác định đầu tư các dự án có tầm vóc chiến lược như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, từng bước thay thế hệ thống đường sắt cũ, lạc hậu. Hai dự án này đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư vào các ngày 30-11-2024 và 19-2-2025.

Theo Bộ Xây dựng, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài 1.541 km, tổng mức đầu tư hơn 1,71 triệu tỉ đồng. Tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng dài 417 km, tổng mức đầu tư 203.231 tỉ đồng.

Riêng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam tạo ra thị trường xây dựng khoảng 33,5 tỉ USD. Tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng tạo ra thị trường khoảng 4,4 tỉ USD, đồng thời tạo hàng ngàn việc làm trong quá trình xây dựng và khai thác.

Đáng chú ý, các dự án đường sắt hiện đại nêu trên lần đầu chúng ta triển khai với quy mô lớn nhưng được định hướng đầu tư theo tinh thần “tự lực, tự cường”. Đây là bước đột phá lớn về tư duy để qua đó thúc đẩy công nghiệp đường sắt trong nước, hình thành các doanh nghiệp đủ năng lực tiếp cận, làm chủ công nghệ, từng bước nội địa hóa và hướng tới xuất khẩu.

Bộ Xây dựng cho biết giai đoạn 2021-2025 đã hoàn thành và thông xe 2.025 km, gấp gần hai lần số km cao tốc xây dựng trong 20 năm trước đó. Riêng năm 2025 hoàn thành 1.491 km.

Với tầm vóc và tư duy như vậy, ngay sau khi Quốc hội thông qua chủ trương, Chính phủ và Thủ tướng đã chỉ đạo triển khai nhiều nhiệm vụ để sớm khởi công dự án. Các công việc gồm giải phóng mặt bằng; lựa chọn tư vấn; rà soát, biên dịch 81 bộ tiêu chuẩn của Trung Quốc và 55 tiêu chuẩn châu Âu; phối hợp ban hành 37 tiêu chuẩn ISO.

Cùng với đó là xây dựng các nghị định theo thẩm quyền; phê duyệt đề án phát triển nguồn nhân lực và công nghiệp đường sắt; làm việc với các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các địa phương đang tập trung giải phóng mặt bằng và xây dựng khu tái định cư.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng đã giao Ban quản lý dự án Thăng Long thay cho Ban quản lý dự án đường sắt thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư nhằm đẩy nhanh tiến độ.

Về hình thức đầu tư, Quốc hội đã chấp thuận bổ sung các hình thức PPP và đầu tư theo Luật Đầu tư bên cạnh đầu tư công, giao Chính phủ lựa chọn phương án phù hợp. Thủ tướng yêu cầu đến tháng 1-2026 phải dứt khoát lựa chọn hình thức đầu tư để triển khai dự án.

Với tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, dự án thành phần xây dựng tuyến chính dự kiến hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi vào tháng 6-2026, phê duyệt vào tháng 7-2026 và thi công từ cuối năm 2026 đến 2030.

Ngoài ra, nhiệm kỳ tới sẽ đầu tư các tuyến đường sắt kết nối vùng như TP.HCM - Cần Thơ, Biên Hòa - Vũng Tàu, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Viêng Chăn - Vũng Áng, nhằm giảm áp lực cho đường bộ.

Khi hoàn thành các dự án trên hệ thống đường sắt sẽ phủ sóng từ Bắc tới Nam, kết nối cảng biển, hàng không… Điều mà trước đây chúng ta chưa thể làm được.

Hướng tới 5.000 km đường bộ cao tốc

Bộ Xây dựng cho biết giai đoạn 2021-2025 đã hoàn thành và thông xe 2.025 km, gấp gần hai lần số kilomet cao tốc xây dựng trong 20 năm trước đó. Riêng năm 2025 hoàn thành 1.491 km.

Với kết quả trên, sau Đại hội XIV, ngành xây dựng tự tin hoàn thành mục tiêu 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030. Nhiều dự án sẽ được triển khai và xây dựng như Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên, Bắc Kạn - Cao Bằng, Quy Nhơn - Pleiku, Quảng Ngãi - Kon Tum, Cà Mau - Đất Mũi, cao tốc Bắc - Nam phía tây, các tuyến kết nối ĐBSCL, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội, vành đai 4 TP.HCM.

Trong các dự án, đáng chú ý là tuyến cao tốc Cà Mau - Đất Mũi, lần đầu đưa cao tốc về điểm cực Nam trên đất liền của Tổ quốc. Tuyến dài khoảng 90 km, quy mô bốn làn xe, dự kiến hoàn thành trước năm 2030.

Bên cạnh đó là tuyến Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên - cửa khẩu Tây Trang, dài khoảng 305 km, quy mô bốn làn xe. Tuyến cao tốc này sẽ tháo gỡ nút thắt giao thông cho khu vực Tây Bắc, nâng cao năng lực kết nối cho Điện Biên, Sơn La.

Các tuyến vành đai đô thị, nhất là vành đai 4 TP.HCM dài hơn 207 km, cũng được xác định là dự án chiến lược, kết nối liên vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời tạo thêm hướng kết nối với sân bay Long Thành.

P8-9-anh-2-bai-1.jpg
Việc vượt chỉ tiêu xây dựng đường bộ cao tốc nhiệm kỳ vừa qua tạo khí thế và niềm tin cho nhiệm kỳ tới. Ảnh: V.LONG

Phát triển các cảng biển trung chuyển quốc tế

Bên cạnh đường bộ và đường sắt, các cảng biển chiến lược như Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải, Cần Giờ, Liên Chiểu, Hòn Khoai, Nam Đồ Sơn, Vân Phong, Trần Đề cũng sẽ được triển khai mạnh mẽ trong thời gian tới.

Trong đó, cảng tổng hợp Hòn Khoai được xây dựng trên đảo, có một bến tàu dài 1 km, công suất 20 triệu tấn/năm, tiếp nhận tàu đến 250.000 DWT. Cảng được kỳ vọng trở thành cửa ngõ xuất nhập khẩu của ĐBSCL.

Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có quy mô khoảng 571 ha, tổng vốn đầu tư hơn 50.000 tỉ đồng, tiếp nhận tàu container đến 250.000 tấn, công suất dự kiến đạt 16,9 triệu TEU vào năm 2045.

Song song đó là hoàn thiện các dự án sân bay như Long Thành, Gia Bình, nâng cấp Nội Bài, Phú Quốc…

Bộ trưởng Trần Hồng Minh khẳng định Chính phủ sẽ tiếp tục đóng vai trò kiến tạo, đồng hành, bảo đảm điều kiện thuận lợi để các dự án triển khai đồng bộ, hiệu quả, đúng tiến độ.

“Mục tiêu là đạt 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030, hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, phát triển các cảng biển, cảng hàng không lớn và từng bước triển khai đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới” - ông Trần Hồng Minh nhấn mạnh.

Theo ông Trần Hồng Minh, những kết quả đạt được là nền tảng quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới, góp phần tăng trưởng kinh tế cả nước trên 8% trong năm 2025 và hướng tới tăng trưởng hai con số trong các năm tiếp theo. Riêng ngành xây dựng đạt trên 9%, đóng góp khoảng 1,96 điểm % vào tăng trưởng GDP.

Ông PHAN CÔNG BẰNG, Trưởng Ban quản lý đường sắt đô thị (MAUR):

Gỡ điểm nghẽn, tạo dư địa bứt phá

P8-9-PhanCongBang.jpg

Năm 2026 được xác định là giai đoạn bản lề của hệ thống metro TP.HCM. Trong bối cảnh không gian phát triển được mở rộng sau sắp xếp địa giới, metro được định vị là hạ tầng khung, tổ chức không gian đô thị, kết nối trung tâm với các khu vực động lực và đô thị vệ tinh.

Trên cơ sở Nghị quyết 260/2025/QH15 (sửa đổi Nghị quyết 98/2023/QH150), nhiều điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Phát triển metro gắn chặt với mô hình TOD, kết nối giao thông công cộng - đất đai - tài chính đô thị - tổ chức không gian sống. Điểm then chốt là TP được giữ lại 100% nguồn thu từ khai thác quỹ đất tại các khu vực TOD để tái đầu tư cho hạ tầng. Đây là nền tảng để TP.HCM phát triển đồng bộ, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới.

PGS-TS NGÔ TRÍ LONG, chuyên gia kinh tế:

Mở đường để mở năng suất, việc làm, mở không gian phát triển

P8-9-NgoTriLong.jpg

Đại hội XIV tiếp tục đặt phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong các đột phá chiến lược. Trong đó, giao thông được coi là “mũi nhọn” do tác động lan tỏa trực tiếp đến chi phí, năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điểm mới đáng chú ý là tư duy giao thông đa phương thức. Không chỉ thêm kilomet đường bộ, mà phát triển đồng thời cảng biển cửa ngõ, sân bay, đường sắt đô thị, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế. Đặc biệt là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và các trục logistics chiến lược.

Nếu coi các đột phá chiến lược là “bộ máy tăng trưởng” thì giao thông là hệ mạch giúp vốn, lao động, công nghệ và hàng hóa lưu chuyển nhanh hơn, rẻ hơn, an toàn hơn.

Thực tiễn cho thấy mỗi khi một tuyến cao tốc, cây cầu lớn, cảng biển hay nhà ga được đưa vào sử dụng, dòng dịch chuyển đầu tư thường diễn ra ngay sau đó. Khu công nghiệp mở rộng, đô thị vệ tinh hình thành, dịch vụ logistics và thương mại phát triển theo, giao thông sẽ tạo ra kỳ vọng thị trường, yếu tố quan trọng kéo theo dòng vốn tư nhân.

Trong nhiệm kỳ tới, các dự án vốn lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và các tuyến đường sắt chiến lược được kỳ vọng tạo cú hích kép.

Thứ nhất, kích hoạt thị trường công nghiệp - xây dựng quy mô lớn. Theo thông tin công bố, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam mở ra cơ hội lớn cho công nghiệp hỗ trợ. Nếu chính sách nội địa hóa được thiết kế hợp lý, dự án không chỉ “chi tiền mua thiết bị” mà còn tạo đơn hàng cho cơ khí, vật liệu, điện - điều khiển, xây lắp, tư vấn, đào tạo trong nhiều năm.

Thứ hai, tạo việc làm theo chuỗi. Với tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, dự án có thể tạo thị trường xây dựng khoảng 4,4-4,5 tỉ USD và khoảng 90.000 việc làm trong giai đoạn xây dựng, kèm việc làm dài hạn khi vận hành.

Kỹ sư cầu đường TRẦN VĂN TƯỜNG:

Tiếp nối thành tựu, khơi thông điểm nghẽn

P8-9-TranVanTuong.jpg

TP.HCM đã xác lập rõ lộ trình, mục tiêu và nguồn lực cho nhiều công trình giao thông quy mô lớn. Tư duy quy hoạch đang chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn, từ xử lý tình huống sang kiến tạo cấu trúc phát triển. Giao thông trở thành công cụ dẫn dắt đầu tư, tái cấu trúc không gian đô thị theo hướng đa phương thức, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Để tạo lan tỏa mạnh, TP cần ưu tiên đẩy nhanh tiến độ các dự án đang triển khai, hoàn thiện mạng lưới kết nối liền mạch giữa các loại hình vận tải. Đồng thời, chủ động thu hút đầu tư cho các dự án động lực như đường sắt đô thị, đường trên cao, các trục chiến lược.

Cùng với đó là tháo gỡ thủ tục, áp dụng cơ chế ưu đãi, chia sẻ rủi ro, tạo môi trường đầu tư minh bạch. TP cũng cần khai thác hiệu quả quỹ đất gắn với giao thông để tái đầu tư hạ tầng theo định hướng giao thông công cộng.

Các dự án metro sẽ làm thay đổi diện mạo giao thông Hà Nội và TP.HCM

Sau nhiều năm chậm tiến độ do vướng mắc về vốn và khâu chuẩn bị đầu tư, các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.HCM đang đứng trước bước ngoặt mới, với loạt cơ chế đặc thù và kế hoạch triển khai rõ ràng hơn.

Những năm qua, Việt Nam chủ trương đầu tư đường sắt đô thị nhằm giảm áp lực giao thông tại các đô thị lớn. Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, công tác chuẩn bị đầu tư và quản lý thực hiện, khiến nhiều dự án kéo dài tiến độ.

Nhận diện rõ các tồn tại, trong nhiệm kỳ vừa qua, cơ quan chức năng đã tập trung tháo gỡ vướng mắc và đạt hai kết quả quan trọng. Một là đưa vào vận hành tuyến Bến Thành - Suối Tiên tại TP.HCM, tuyến Cát Linh - Hà Đông và đoạn trên cao tuyến Nhổn - ga Hà Nội. Hai là Chính phủ trình và được Quốc hội chấp thuận thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù cho Hà Nội và TP.HCM nhằm đẩy nhanh đầu tư, xây dựng hệ thống metro.

Hà Nội cần đầu tư thêm 79 km metro

Đại hội XIV tiếp tục xác định tập trung nguồn lực cho đường sắt đô thị, mục tiêu đến năm 2030, mỗi TP hoàn thành 100 km; đến năm 2035 đạt khoảng 300 km.

Hiện Hà Nội mới đưa vào vận hành khoảng 21 km, còn thiếu 79 km để đạt mục tiêu trên. TP.HCM mới có gần 20 km, đồng nghĩa còn khoảng 80 km cần đầu tư thêm.

Theo UBND Hà Nội, TP sẽ khởi công và đẩy nhanh các dự án như đoạn đi ngầm tuyến Nhổn - ga Hà Nội, tuyến Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, tuyến Văn Cao - Hòa Lạc; đồng thời nghiên cứu kéo dài tuyến Cát Linh - Hà Đông lên Xuân Mai và tuyến Nhổn - ga Hà Nội đến Hoàng Mai.

Chính quyền Hà Nội cho biết khi mạng lưới đường sắt đô thị hoàn thiện, tỉ lệ người dân sử dụng vận tải hành khách công cộng có thể đạt 35%-45%, thị phần phương tiện cá nhân giảm còn khoảng 30%. Điều này góp phần giảm ùn tắc, ô nhiễm và tạo động lực phát triển kinh tế đô thị.

Lãnh đạo UBND Hà Nội nhấn mạnh hạ tầng giao thông phát triển đến đâu thì không gian phát triển hình thành đến đó. Đường sắt đô thị là phương thức vận tải khối lượng lớn, ổn định, an toàn, thân thiện với môi trường và là xu hướng tất yếu trong phát triển đô thị.

P8-9-ảnh mẩu metro.jpg
Giai đoạn đến năm 2035, TP.HCM triển khai thêm tám dự án, phấn đấu hoàn thành khoảng 462 km đường sắt đô thị. Ảnh: NGUYỄN TIẾN

TP.HCM cần 90 tỉ USD để xây hơn 1.000 km đường sắt đô thị

Sở Xây dựng TP.HCM cho biết theo các quy hoạch được Thủ tướng phê duyệt, TP.HCM (mới) đang hình thành hệ thống đường sắt đô thị quy mô lớn, hiện đại, đóng vai trò trụ cột giao thông công cộng và động lực phát triển không gian đô thị - kinh tế vùng.

Toàn mạng lưới quy hoạch gồm 27 tuyến, tổng chiều dài khoảng 1.024 km. Trong đó, khu vực TP.HCM (trước sáp nhập) có 12 tuyến, dài khoảng 582 km; Bình Dương (trước sáp nhập) có 12 tuyến, dài khoảng 305 km; Bà Rịa-Vũng Tàu (trước sáp nhập) có ba tuyến, dài khoảng 125 km. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành được điều chỉnh sang đường sắt đô thị, dài khoảng 42 km, đoạn qua địa bàn TP khoảng 12 km. Tổng nhu cầu vốn ước khoảng 90 tỉ USD.

Giai đoạn 2025-2030 được xác định là then chốt, ưu tiên sáu dự án trọng điểm, gồm metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương và Bến Thành - Thủ Thiêm); đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành; metro Bình Dương - Suối Tiên; metro số 6 (Tân Sơn Nhất - Phú Hữu); metro Bến Thành - Cần Giờ. Mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 187 km, tổng vốn sơ bộ 19,67 tỉ USD.

Giai đoạn đến năm 2035, TP.HCM triển khai thêm tám dự án, phấn đấu hoàn thành khoảng 462 km đường sắt đô thị, với nhu cầu vốn khoảng 50 tỉ USD, cơ bản hình thành khung giao thông đô thị bền vững, hiện đại.

Để bảo đảm tiến độ, TP.HCM tập trung đẩy nhanh các dự án ưu tiên giai đoạn 2025-2030; rà soát quy hoạch phù hợp không gian đô thị mới; xây dựng lộ trình huy động vốn, nghiên cứu phát hành trái phiếu địa phương; chuẩn bị quỹ đất, hồ sơ pháp lý, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đồng thời đào tạo nhân lực, thuê chuyên gia và từng bước phát triển công nghiệp đường sắt.

Với lộ trình rõ ràng và giải pháp đồng bộ, hệ thống đường sắt đô thị được kỳ vọng trở thành trụ cột giao thông, góp phần thúc đẩy Hà Nội và TP.HCM phát triển nhanh, bền vững.

NHƯ NGỌC - VIẾT LONG

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm