Phạm nhân mang tiền, điện thoại vào trại giam, xử lý sao?

(PLO)- Điều 5 Thông tư 65/2026 quy định rất rõ việc xử lý đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù, trong đó có tiền, điện thoại...

Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư 65/2026 quy định về đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026, thay thế Thông tư 10/2020.

Điều 5 Thông tư 65/2026 quy định rất rõ việc xử lý đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù, trong đó có tiền, điện thoại... Ảnh minh họa: CA

12 nhóm đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù

Theo Điều 1 Thông tư 65/2026, phạm vi điều chỉnh không còn giới hạn ở cơ sở giam giữ phạm nhân như Thông tư 10/2020, mà mở rộng đến toàn bộ nơi chấp hành án phạt tù của phạm nhân.

Cụ thể, ngoài cơ sở giam giữ, Thông tư mới còn áp dụng đối với khu lao động ngoài trại giam; khu điều trị riêng, buồng riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; nơi quản lý phạm nhân được trích xuất.

Điều 2 Thông tư 65/2026 quy định 12 nhóm đồ vật cấm đưa vào nơi chấp hành án phạt tù. So với Thông tư 10/2020, nhiều nhóm đồ vật được quy định cụ thể, chi tiết hơn. Chẳng hạn, bổ sung “tiền chất thuốc nổ” vào danh mục cấm cùng với vật liệu nổ; mở rộng danh mục công cụ hỗ trợ bị cấm như súng bắn điện, súng phóng dây mồi, khóa số tám, lá chắn, thiết bị áp chế bằng âm thanh…

Khoản 5 Điều 2 tách riêng thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thành nhóm đồ vật cấm độc lập. Trong khi đó, Thông tư 10/2020 chỉ quy định các loại thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thực phẩm chức năng chưa được sự đồng ý của thủ trưởng cơ sở giam giữ.

Thông tư mới cũng không còn quy định điều kiện “chưa được sự đồng ý của thủ trưởng cơ sở giam giữ”, đồng nghĩa việc đưa các loại thuốc này vào nơi chấp hành án phạt tù bị kiểm soát chặt hơn.

Ngoài ra, khoản 9 Điều 2 quy định cho phép thiết bị điện tử phục vụ y tế như máy đo huyết áp, máy trợ thính, máy trợ tim và các loại máy phụ trợ khác theo quy định của pháp luật về y tế, được phép mang vào.

Nhóm tài liệu, sách báo không được mang vào nơi chấp hành án phạt tù theo khoản 10 Điều 2, gồm: các loại sách, báo, ấn phẩm, tôn giáo, tín ngưỡng không được in, phát hành hợp pháp; tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mê tín dị đoan, đồi trụy hoặc gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, giáo dục phạm nhân.

Thông tư 65/2026 cũng lần đầu bổ sung riêng nhóm thực phẩm tươi sống hoặc thực phẩm đã qua sơ chế, chế biến nhưng không có điều kiện bảo quản, không bảo đảm an toàn thực phẩm vào danh mục đồ vật cấm tại khoản 11 Điều 2.

Xử lý đồ vật cấm

Thông tư 65/2026 cũng thay đổi cách xử lý đối với tiền, giấy tờ, thiết bị điện tử bị phát hiện trong nơi chấp hành án phạt tù.

Theo khoản 2 Điều 5, đối với tiền, giấy tờ có giá, thẻ thanh toán điện tử, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý nếu phạm nhân tự nguyện giao nộp thì được lưu giữ hoặc bàn giao cho người thân theo đề nghị của phạm nhân.

Trường hợp bị phát hiện, thu giữ sau khi xử lý vi phạm, tài sản này sẽ được niêm phong, lưu giữ và trả lại cho phạm nhân ngay sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Đây là điểm thay đổi lớn so với khoản 2 Điều 6 Thông tư 10/2020. Trước đây, tiền và tài sản bị thu giữ được gửi vào kho bạc Nhà nước nơi đơn vị đóng quân để xử lý theo quy định của pháp luật.

Thông tư mới cũng quy định rõ trường hợp phạm nhân chết trong quá trình chấp hành án thì tài sản được bàn giao cho người thân thích.

Đối với giấy tờ tùy thân, giấy tờ về cư trú, giấy chứng nhận nghề, bằng cấp, chứng chỉ và các giấy tờ chứng nhận khác, khoản 3 Điều 5 quy định sau khi thu giữ phải niêm phong, lưu giữ và trả lại cho phạm nhân khi chấp hành xong án phạt tù hoặc khi chuyển nơi chấp hành án.

Riêng các thiết bị, linh kiện điện tử, thông tin liên lạc cá nhân, phương tiện ghi âm, ghi hình, trừ các trang thiết bị điện tử dùng trong y tế nhằm bảo đảm sức khỏe cá nhân cho phạm nhân như: máy đo huyết áp, máy trợ thính, máy trợ tim và các loại máy phụ trợ khác theo quy định của pháp luật về y tế (theo khoản 4 Điều 5), yêu cầu sau khi thu giữ phải niêm phong để xác minh nội dung vụ việc.

Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo khoản 1 Điều 4, tức sẽ bị giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu theo thẩm quyền, sau đó chuyển cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngược lại, nếu không có dấu hiệu tội phạm hoặc vi phạm hành chính thì cơ sở giam giữ phải thành lập Hội đồng xử lý đồ vật cấm.

Quy trình thu giữ, bảo quản đồ vật cấm

Theo Điều 3 Thông tư 65/2026, khi phát hiện hành vi đưa vào, sử dụng trái phép hoặc tàng trữ đồ vật cấm, cán bộ phát hiện phải báo cáo ngay giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam. Cán bộ được giao xử lý vụ việc phải lập biên bản vi phạm, tạm giữ đồ vật cấm, ghi lời khai người vi phạm và người làm chứng.

Biên bản tạm giữ phải mô tả đúng số lượng, trọng lượng, chủng loại, hình dáng, kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của đồ vật cấm, đồng thời niêm phong đối với vật cần niêm phong.

Điều 6 Thông tư 65/2026 bổ sung thêm một số loại giấy tờ trong hồ sơ xử lý đồ vật cấm như quyết định thành lập Hội đồng xử lý đồ vật cấm, biên bản bàn giao hoặc biên bản xử lý đồ vật cấm.

Nếu Thông tư 10/2020 quy định hồ sơ được lưu tại nhiều đơn vị khác nhau tùy cấp giam giữ thì Thông tư 65/2026 thống nhất lưu giữ tại Đội thực hiện công tác trinh sát và thực hiện theo quy định về công tác hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân.

Đừng bỏ lỡ

Video đang xem nhiều

Đọc thêm

Đọc nhiều
Tiện ích
Tin mới